(View: 837461)
Chủ nhật đầu tháng 10, Chùa Vô Môn có tổ chức ba ngày tu tập từ 6.00Giờ chiều thứ Sáu đến 6.00Giờ chiều chủ nhật. Chủ nhật đầu tháng 10 là NGÀY 6 THÁNG 10 NĂM 2019. Xin liên lạc số điện thoại (714) 206-1024 để biết thêm chi tiết.
(View: 48644)
Hấp hối có nghĩa là gần chết. Có nhiều từ đồng nghĩa cùng biểu đạt cho trạng thái này như đang lâm chung, thời gian cận tử, lúc sắp chết… Độ ở đây mang ý nghĩa chuyển hóa, giúp người vượt qua, giáo hóa cho người.

Tóm tắt Vi Diệu Pháp.

Friday, August 2, 201312:00 AM(View: 46691)


Tóm tắt Vi Diệu Pháp

Giới thiệu & Giảng giải Luận tạng

 

General editor Bhikkhu Bodhi

Việt Dịch: Lê Văn Phúc  

Hiệu đính và trình bày: Minh Hạnh

 

Phần I

Lời giới thiệu

Của U Rewata Dhamma and Bhikkhu Bodhi

 

Trọng tâm cuả quyển sách là loại sách tóm lược có vào thờì trung cổ về triết lý Phật giáo có tên là Vi Diệu Pháp Toát Yếu (Abhidhammattha Sangaha). Tác phẩm này được coi là do Acariya Anuruddha, một người am hiểu Phật giáo viết, người mà thanh thế ít được biết đến ngay cả tại đất nước cuả chính mình và thế kỷ mà ông sống cũng vẫn còn là một nghi vấn. Tuy nhiên, bất chấp nhân thân còn mơ hồ cuả tác giả, quyển sổ tay nhỏ bé cuả ông đã trở thành quyển sách giáo khoa quan trọng và có tầm ảnh hưởng nhất cuả Phật giáo Therevada. Trong chín chương ngắn chiếm khoảng 50 trang in, tác giả cung cấp tóm lược quán xuyến cả một bộ phận phức tạp cuả học thuyết Phật giáo . Tài năng cuả ông là tóm lấy được cốt tuỷ cuả hế thống ấy, và sắp xếp chúng theo một định dạng dễ hiểu cho đến nổi tác phẩm cuả ông đã trở thành quyển sổ tay chuẩn mực cho việc nghiên cưú luận tạng trong toàn bộ các quốc gia Phật giáo Therevada ở Nam và Đông Nam Á. Trong những quốc gian này, đặc biệt là Miến Điện (Myanmar) nơi mà luận tạng được theo đuổi kiên trì nhất, thì bộ Vi Diệu Pháp Toát Yếu (Abhiddhammattha Sangaha) được coi là chiếc chià khoá không thể thiếu được trong việc mở kho tàng vĩ đại này cuả trí tuệ Phật.

Vi Diệu Pháp

Trung tâm của triết lý cuả Luận là Abhidhamma Pitaka,(Tạng Vi Diệu Pháp) một trong các bộ phận thuộc kho tàng kinh điển được Phật giáo Therevada công nhận là chính truyền cuả Phật Pháp. Kho tàng kinh điển này được soạn thảo bởi ba Hội đồng Phật giáo lớn được tổ chúc tại Ấn độ trong những thế kỷ đầu sau khi Phật viên tịch. Hội đồng đầu tiên tại Rajagaha, được triệu tập 3 tháng sau khi Phật nhập Niết bàn với 500 Đại đức dưới sự chủ trì của Sơ tổ Mahakassapa (Đại Ca-diếp); Hội đồng thứ hai tại Vesali, cả trăm năm sau; và Hội đồng thứ ba, tại Pataliputta, hai trăm năm sau nưã. Kho tàng kinh điển xuất hiện từ các hội đồng này, được bảo tồn bằng ngôn ngữ Trung Ấn, ngày nay gọi là tiếng Pali, được biết đến là Tam tạng (Tipitaka), hay ba “cái rỗ” hay là ba bộ sưu tập lời giáo huấn cuả Phật. Bộ sưu tập thứ nhất, bộ Vinaya Pitaka, là bộ sách nói về Luật, chưá đựng các qui định ứng xử cuả tỳ kheo và tỳ kheo ni (nam và nữ tu sĩ) và các qui định điều chỉnh tăng già (tập thể tăng chúng), nề nếp tu viện. Bộ sưu tập thứ hai là bộ Sutta Pitaka (Kinh tạng), tập hợp các bài giảng do chính Đức Phật nói ra trong nhiều dịp khác nhau trong suốt thời gian hành đạo năng động cuả ngài trong 45 năm. Và bộ sưu tập thứ ba là Abhidhamma Pitaka (Tạng Vi Diệu Pháp), là “rổ” chưá đựng học thuyết “cao hơn” hay “chuyên biệt” cuả Đức Phật

Tạng thứ ba vĩ đại này trong kho tàng kinh điển Pali có tính đặc thù biện biệt khác hai tạng kia. Trong khi Kinh và Luật phục vụ mục đích cụ thể, rõ ràng, tức là, tuyên bố rõ ràng thông điệp giải thoát và đề ra phương pháp tu luyện cá nhân, thì Tạng Vi Diệu Pháp trình bày diện mạo hệ thống hoá mang tính kỹ thuật cao và trưù tượng cuả học thuyết. Bộ sưu tập bao gồm bảy quyển: Bộ Pháp Tụ (Dhammasangani), Bộ Phân Tích (Phân Biệt - Vibhanga), Bộ Chất Ngữ (Giới Thuyết - Dhatukatha), Bộ Nhân Chế Định (Nhân Thi Thuyết - Puggalapannati), Bộ Ngữ Tông (Kathavattu), Bộ Song Đối (Song Luận - Yamaka) và Bộ Vị Trí (Phát Thú - Patthana). Không như Kinh Tạng, đây không phải là những ghi chép những bài giảng, đàm luận xảy ra trong bối cảnh đời sống thực ; hơn thế, chúng là những luận đề toàn diện trong đó những nguyên lý cuả học thuyết được tổ chức có phương pháp, xác định chi li , lập thành bảng và phân loại tỉ mỉ . Dù rằng, không nghi ngờ gì nưã, thoạt đầu chúng được soạn thảo, truyền miệng và chỉ được ghi chép lại sau này, so với phần còn lại cuả kho tàng kinh điển trong thế kỷ thứ nhất sau C.N., chúng hiển lộ những phẩm chất cuả các tư tưởng được cấu trúc và sự nhất quán chặt chẽ đặc trưng hơn cho loại tài dạng viết.

Theo truyền thuyết Therevada , tạng luận được gìn giữ với sự kính trọng cao nhất, được kính trọng như là châu báu vương miện cuả kinh điển Phật giáo. Điển hình cho cao trọng này, ở Sri Lanka nhà vua Kassapa V (thế kỷ thứ 10 sau CN) đã cho khắc toàn bộ Luận Tạng trên các điã vàng và cho nạm ngọc quyển đầu tiên, trong khi một vị vua khác , vua Vijayabahu (thế kỷ 11) thường nghiên cứu Bộ Pháp Tụ - Dhammasagani vào mỗi sáng trước khi ngự triều và soạn một bản dịch quyển ấy sang tiếng Sinhala. Tuy nhiên khi đọc lướt qua, ta cảm thấy khó hiểu về sự tôn kính đối với Luân. Bản văn có vẻ như chỉ là một bài tập mang tính học thuật trong việc sử dụng các thuật ngữ học thuyết trưù tượng, lập đi lập lại nặng nề, nhàm chán. 

Chỉ khi ta nghiên cứu Tạng Vi Diệu Pháp một cách toàn diện và tư duy sâu sắc với lòng tin mạnh mẽ rằng những quyển sách cổ này ắt hẳn có những điều thật ý nghiã cần truyền đạt, thì lý do cuả việc tôn kính Tạng Vi Diệu Pháp mới hiển lộ. Khi ta tiếp cận các bài giảng cuả Tạng Vi Diệu Pháp với tinh thần như vậy và đã đạt được sự thấu hiểu ở chừng mực nào đó vào những hàm ý rộng lớn và sự thống nhất hữu cơ cuả chúng, ta mới phát hiện ra rằng chúng không nỗ lực nhằm vào cái gì khác hơn là truyền đạt sự khải ngộ toàn diện về cái một -toàn -thể về chân lý hiện thực được thể nghiệm, một sự khải ngộ mang dấu ấn cuả mở rộng giới hạn, cuả sự hoàn chỉnh hệ thống và sự chính xác trong phân tích. Theo quan điểm chính thống của Phật giáo Therevada, hệ thống mà họ trình bày không phải là sự sai lầm cuả những tư tưởng mang tính lý thuyết, không phải là sự pha tạp cuả những giả thuyết siêu hình mà là sự phát lộ chân bản chất cuả hiện hữu như được tâm thấu hiểu, cái tâm đã thâm nhập vào cái một-toàn-thể cuả sự vật cả về chiều sâu lẫn về chi tiết tế vi nhất. Bởi vì tính chất này mà truyền thuyết Phật giáoTherevada xem Tạng Vi Diệu Pháp là sự thể hiện hoàn thiện nhất có thể có được cuả kiến thức Đức Phật bao trùm không gì cản ngại (trí huệ) (sabbannuta-nana). Đó là khẳng định cuả ngài về cách mà sự vật xuất hiện đối với tâm cuả Đấng Giác Ngộ Viên mãn, được an định theo hai cực cuả giáo lý cuả ngài: khổ và chấm dứt (thoát) khổ.

Hệ thống mà Tạng Vi Diệu Pháp trình bày đồng thời là triết học, tâm lý học, và đạo đức học, tất cả hội nhập trong khuôn khổ cuả một chương trình giải thoát. Tạng Vi Diệu Pháp có thể được mô tả như là triết học bởi vì nó đề xuất một bản thể luận, một dự phóng về bản chất cuả hiện thực.Dự phóng này được gọi là pháp luận (học thuyết về pháp). Một cách ngắn gọn, pháp luận cho rằng hiện thực tối thượng bao gồm hằng hà sa số các yếu tố thành phần gọi là chư pháp. Chư pháp không phải là cái ẩn dấu sau hiện tượng , không phải vật tư thân như là đối lập với chỉ là diện mạo, nhưng là những yếu tố thành phần nền tảng cuả hiện thực. Chư pháp chia làm hai lớp rộng: pháp không bị qui định, tức là Niết bàn độc hưũ, và pháp bị qui định, là những hiện tượng vật chất tinh thần phù du tạo nên quá trình cuả kinh nghiệm. Thế giới quen thuộc cuả những vật cụ thể và những con người tồn tại khổ đau , theo pháp luận, một dạng khái niệm do tâm khuôn đúc từ những nguyên dữ liệu do chư pháp đem lại. Thực thể cuả khung tham chiếu hàng ngày cuả chúng ta chỉ là hiện thức đối cảm quan có nguồn gốc từ các tầng cơ sở cuả chư pháp. Duy chỉ có chư pháp mới sở đắc được chân lý hiện thực tối hậu: hiện hưũ hạn từ phiá tự thân cuả chúng (sarupato) độc lập với quá trình khái niệm hoá các dữ liệu cuả tâm.

Một khái niệm như thế về bản chất cuả hiện thưc dường như đã ẩn tàng trong Kinh Tạng đặc biệt là trong các bài giảng cuả Đức Phật về các thức, uẩn, đại (ví dụ tứ đại), nhân duyên, v.v., nhưng nó vẫn còn ẩn tàng phiá sau như là cơ sở cho những giáo lý được khuôn đúc một cách thực tiễn hơn trong Kinh điển. Ngay trong chính Luận Tạng , pháp luận vẫn chưa được trình bày như là nguyên lý triết học rõ ràng ; điều này chỉ xuất hiện về sau, trong các bản Chú Giải (Commentaries). Tuy nhiên, dù là tìm ẩn, pháp luận vẫn được tập trung quan tâm trong vai trò là nguyên tắc điều hành phiá sau nhiệm vụ hiển nhiên hơn cuả Tạng Vi Diệu Pháp, dự phóng cuả việc hệ thống hoá.

Đề án này khởi sự từ tiền đề rằng để đạt được trí huệ hiểu được sự vật “như chúng thực sự là”, một cái nêm thật sắc phải được đóng vào giưã những loại thực thể sở đắc tối thượng bản thể học, nghiã là, chư pháp, và những thực thể chỉ tồn tại như là những dạng thức khái niệm nhưng bị nhận thức sai lầm là thực thể tối thượng. Tiến hành từ điểm biện biệt này, Tạng Vi Diệu Pháp chấp nhận một tiền đề về con số cố định cuả chư pháp như là cơ sở cuả hiện thực , mà hầu hết đều được rút ra từ Kinh điển. Rồi nó bắt đầu định nghiã tất cả những thuật ngữ kinh điển dùng trong Tạng Kinh theo cách cho thấy sự đồng nhất cuả chúng với những thực thể tối thượng bản thể học được hệ thống công nhận. Trên cơ sở cuả những định nghiã này nó xếp loại toàn diện chư pháp vào mạng cuả những phạm trù tiên định và các phương thức quan hệ làm nổi bật vị trí cuả chúng trong cấu trúc cuả hệ thống. Và bởi vì hệ thống được cho là phản ảnh chân thực cuả hiện thực, điều này có nghiã là việc phân loại xác định vị trí cuả mỗi pháp trong toàn bộ cấu trúc cuả hiện thực

Nổ lực cuả Tạng Vi Diệu Pháp nhằm thấu hiểu bản chất cuả hiện thực, trái với nỗ lực cuả khoa học truyền thuyết phương Tây , không tiến hành từ quan điểm cuả người quan sát bàng quang nhìn một cách hướng ngoại về thế giới bên ngoài. Mối quan tâm lớn nhất cuả Tạng Vi Diệu Pháp là hiểu bản chất cuả kinh nghiệm, và do đó bản chất cuả hiện thực mà nó tập trung vào là hiện thực ý thức , thế giới đươc mang lại trong kinh nghiệm, bao gồm cả kiến thức và cái-biết -được với nghiã rộng nhất. Vì lý do này nỗ lực triết học cuả Tạng Luận thu tóm thành một tâm lý học hiện tượng logic. Để có thể hiểu hiện thực được thể nghiệm, Tạng Luận tiến hành phân tích toàn diện cái tâm như là nó tự hiển lộ khi thiền đinh hồi quang. Nó phân chia ý thức thành nhiều chủng loại đa dạng, nêu cụ thể những yếu tố và chức năng cuả mỗi loại, gắn kết chúng với các đối tượng cuả chúng và các cơ cở triết học cuả chúng, và cho thấy các chủng loại khác nhau cuả ý thức kết nối với nhau ra sao và với hiện tượng vật chất để tạo thành quá trình kinh nghiệm tiếp diễn.

Việc phân tích tâm như vậy không phải do động cơ hiếu kỳ phi thực tiễn mà chính vì mục đích thực tiễn xuyên suốt giáo lý Đức Phật, chứng đạt thoát khổ. Vì Đức Phật truy nguyên khổ từ các thái độ nhiễm trần cuả chúng ta - một định hướng tinh thần bắt nguồn từ tham, sân, si - Tâm lý học hiện tượng lô-gich cuả Luận cũng mang tính chất cuả đạo đức tâm lý , đạo đức không hiểu theo nghiã hẹp cuả những chuẩn mực luân lý mà là toàn bộ sự dẫn đạo đến cuộc sống cao thượng và thanh lọc tâm hồn. Theo đó, chúng ta phát hiện ra rằng Vi Diệu Pháp phân biệt các trạng thái cuả tâm dưạ trên các tiêu chuẩn đạo đức: lành mạnh hay không lành mạnh, những yếu tố đẹp và những điều hư hỏng (tịnh >< cấu). Nó sơ đồ hoá ý thức theo dạng từ thấp đến cao tuỳ ứng với các bậc thành công trong việc thanh lọc mà đệ tử Phật chứng đạt bằng cách tu tập theo con đường cuả Đức Phật. Sơ đồ này cho thấy sự luyện tâm qua sự tinh tiến thâm nhập thiền, các cảnh giới thiền vật chất tế vi và tầng thiền phi phi tưởng, rồi đến các bậc nội quan và trí huệ cuả các con đường thoát tục và chứng quả. Cuối cùng, nó pha từ lộ toàn bộ qui mô phát triển đạo đức đến điểm đỉnh cuả việc thanh lọc viên mãn đạt được với tâm- giải - thoát - bất -thoái - chuyển khỏi các phiền trược.

Tất cả ba chiều cuả Tạng Luận - triết học, tâm lý học, đạo đức học - có nguyên uỷ từ hòn đá tảng cuả giáo lý cuả Đức Phật, chương trình giải thoát được tuyên bố qua Tứ Thánh Đế. Sự khảo sát bản thể học về chư pháp bắt nguồn từ huấn lệnh cuả Đức Phật là Khổ Đế, đồng nhất với các hiện tượng bị qui định (ràng buộc) như là một toàn thể phải được giác ngộ (parinneyya). Sự nổi bật cuả các phiển trược về tinh thần và sự tất yếu phải giác ngộ trong hệ thống các phạm trù cuả nó, là chỉ dấu cho mối quan hệ tâm lý học và đạo đức học cuả nó, kết nối Luận với đệ nhị và đệ tứ Thánh Đế, nguồn gốc cuả khổ và con đường dẫn đến chấm dứt khổ. Và toàn bộ việc phân loại phạm trù cuả chư pháp được hệ thống nghiên cứu cách chi tiết đạt mức hoàn hảo cuả nó trong “nguyên tố không còn bị qui định” (asankhata dhatu) tức là Niết bàn, đệ tam Thánh Đế, chấm dứt khổ.

Phương Pháp Xếp Đôi

Nhà Phật luận nổi tiếng, Acarya Buddhaghosa, giải thích từ “Tạng Vi Diệu Pháp” với nghiã là “ vượt lên trên Pháp” (dhammatireka - dhammavisesa), tiền tố abhi có nghiã là siêu việt và nổi bật, và dhamma ở đây có nghiã là giáo pháp cuả Đức Phật trong Tạng Kinh. Khi Tạng Vi Diệu Pháp được cho là vượt lên giáo lý cuả Tạng kinh, thì điều đó không có ý cho rằng giáo lý cuả kinh có khiếm khuyết ở chừng mực nào đó hoặc là Tạng Luận tuyên bố khải ngộ mới nào đó về học thuyết áo bí mà Tạng kinh chưa hề biết đến. Cả Tạng Kinh và Tạng Luận đều đặt nền móng trên học thuyết duy nhất cuả Đức Phật về Tứ Diệu Đế, và tất cả những nguyên tắc cốt yếu cho sự đạt ngộ đã được Kinh Tạng minh giải. Cái khác giưã Kinh và Luận không hề liên quan đến các nguyên lý nền tảng mà là, chính ra, một phần ở phạm vi, một phần là vấn đề phương pháp.

Về phạm vi, Luận đề ra cách xử lý thấu đáo và toàn diện mà trong Kinh Tạng không thấy có. Acariya Buddhaghosa giải thích rằng trong Tạng Kinh những phạm trù trừu tượng mang tính học thuyết như ngũ uẩn, thập nhị xứ, Thập bát chất và v.v., chỉ được phân loại một phần, trong khi trong Luận Tạng, chúng được phân loại đầy đủ theo các lược đồ phân loại khác nhau, một số giống như trong Tạng Kinh, số khác chỉ có trong Tạng Luận. Như vậy Tạng Luận có phạm vi và tế vi làm cho nó khác với Kinh Tạng

Một lãnh vực quan trọng khác cuả sự khác biệt liên quan đến phương pháp. Các bài giảng trong Kinh Tạng được Đức Phật thuyết giảng trong nhiều hoàn cảnh đa dạng cho các thính giả với nhiều trình độ thính pháp khác nhau. Những bài giảng ấy thoạt đầu có ý làm cho dễ hiểu (mang tính sư phạm), được đưa ra theo cách làm thế nào cho có hiệu quả nhất trong việc hướng dẫn thính giả thực hành giáo lý và thâm nhập được chân lý cuả giaó lý. Để đạt được mục đích này, Đức Phật thoải mái dùng các phương tiện giảng giải dễ hiểu làm cho thính giả lĩnh hội được học thuyết. Ngài dùng các phương pháp tương đồng, ẩn dụ; Ngài thôi thúc, kuyên nhủ, động viên; ngài nắm bắt được xu hướng, thái độ cuả thính giả và điều chỉnh cách trình bày giáo lý để có thể tạo được sự đáp ứng tích cực . Do đó mà phương pháp trong Kinh được mô tả là bài giảng đầy hình ảnh và hoa mỹ về Pháp (pariyaaaya-dhammadesana).

Trái ngược với Tạng Kinh, Tạng Luật (Vi Diệu Pháp) nhằm mở toang trưc tiếp và đơn giản hệ thống nhất thể toàn cục ẩn tàng bên dưới sự hiển lộ cuả Tạng Kinh và gốc xuất phát cuả các bài giảng. Vi Diệu Pháp không quan tâm đến xu hướng cá nhân và trình độ nhận thức cuả thính giả; nó không nhượng bộ bất cứ những yêu cầu thực tiễn đặc thù nào. Nó cho thấy thiết kế kết cấu cuả hiện thực theo phong cách trừu tượng, chính thống hoàn hoàn không có chỗ cho ngôn từ hoa mỹ, các biện pháp hỗ trợ dễ hiểu. Do đó phương pháp cuả Luận được mô tả là bài giảng chân phương, không hoa mỹ về Pháp (nippariyaya-dhammadesana).

Sự khác nhau về kỹ thuật giữa hai phương pháp cũng có ãnh hưởng đến hệ thống thuật ngữ tương ứng. Trong Tạng kinh Phật thường dùng ngôn ngữ qui ước (voharavacana) và chấp nhận chân lý qui ước (sammutisacca), chân lý được diễn đạt bằng các từ ngữ thực tại không chứa đựng chân lý tối thượng bản thể học nhưng vẫn nói được đúng mức về chúng. Do đó trong Tạng Kinh, Đức Phật nói đến “Tôi”, “anh”, nói đến “nam”, và ”nữ”, nói đến chúng sinh, con người ngay cả bản ngã như là những thực thể cụ thể.

Phương pháp trình bày cuả Tạng Luận, tuy nhiên hạn chế nghiêm ngặt trong vòng các thuật ngữ có giá trị trên quan điểm cuả chân lý tối thượng (paramatthtasacca): chư pháp, các tính chất cuả chúng, các chức năng cuả chúng, và các mối quan hệ cuả chúng. Do đó trong Tạng Luận tất cả những thực thể mang tính khái niệm tạm thời được chấp nhận trong Tạng Kinh như thế nhằm mục đích truyền thông cụ thể được chuyển thành mục tiêu bản thể học tối thượng, thành các hiện tượng vật chất tinh thấn trần trụi vô thường, triền phược (bị qui định), nhân duyên sinh (phát sinh tuỳ thuộc), vô ngã, không.

Nhưng một sự định tính là cấn thiết. Khi có sự phân biệt giưã hai phuơng pháp, điều này phải được hiểu là được căn cứ trên điều đặc trưng cho mổi Tạng và không nên hiểu là sự phân biệt tuyệt đối. Ở chừng mực nào đó hai phượng pháp thâm nhập lẫn nhau, chồng lấn nhau. Do đó trong Kinh Tạng chúng ta tìm thấy những bài giảng sử dụng những thuật ngữ triết học nghiêm túc như uẩn, xứ, đại, etc., và như thế nằm trong phạm vi cuả phương pháp cuả Tạng Luận. Lại nưã trong Luận Tạng ta còn tìm thấy những phần, ngay cả cả quyển Nhân Chế Định (Puggalapannatti), ly khai khỏi cách diễn đạt trang nghiêm và việc sử dụng các thuật ngữ qui ước, và như vậy rơi vào phảm vi phương pháp cuả Kinh.

Các đặc điểm riêng cuả Luận

Ngoài việc gắn chặt với phuơng pháp trình bày triết học cuả mình, Luận Tạng còn có những đóng góp quan trọng đối với nhiệm vụ hệ thống hoá cuả mình. Một trong những đóng góp đó là việc sử dụng, trong các sách chính cuả Luận Tạng, một matika - một ma trận hoặc là sơ đồ các phạm trù - như là sơ đồ cho toàn bộ toàn bộ cấu trúc. Ma trận này , ở đầu quyển Pháp Tụ - Dhammasangani như là lời nói đầu thích hợp cuả Luận Tạng, gồm 122 cách phân loại đặc thù cho phương pháp cuả Luận. Trong số đó, có 22 nhóm 3 (tika), các bộ từng 3 thuật ngữ mà theo đó các pháp nền tảng được phân bố; còn lại là hàng trăm nhóm 2 (duka), các bộ gồm 2 thuật ngữ dùng làm cơ sở cho việc xếp loại. Ma trận dùng như là một loại mạng để phân loại kinh nghiệm phức tạp đa dạng phù hợp với những nguyên tắc được quyết định bởi những mục đích cuả Pháp. Ví dụ những nhóm 3 bao gồm những bộ nói về tình trạng như kiện khang, không kiện khang và không quyết định; những tình trạng gắn với những cảm xúc vui tươi, cảm xúc đau đớn, cảm xúc trung tính; những tình trạng là kết quả của nghiệp, dẫn xuất từ những kết quả cuả nghiệp, không thuộc hai cái trước v.v. Những nhóm hai bao gồm những bộ như những tình trạng các căn, không phải các căn; những tình trạng tuỳ thuộc với các căn, không tuỳ thuộc như vậy; những tính trạng bị qui định, không bị qui định; những tình trạng trần tục, siêu trần; v.v. Bằng cách chọn những phạm trù, ma trận quán xuyến tổng thể các hiện tượng, chiếu sáng chúng từ hàng loạt các góc khác nhau về triết thọc, tâm lý học và đạo đức học trong bản chất.

Điểm riêng thứ hai cuả Luận là phân đoạn dòng ý thức hiển hiện liên tục thành những chuỗi những sự kiện tinh thần ngắn nguỉ gọi là citta (chất đa: tâm ý), mỗi đơn nguyên phức thể như vậy tham gia vào chính bản thân ý thức, với tư cách sự ý thức cơ bản cuả một đối tượng, và tập hợp các yếu tố tinh thần (cetasika) thực hiện các nhiệm vụ chuyên biệt hơn trong hành động nhận thức. Quan điểm như vậy về ý thức, ít nhất là ở bước phát hoạ, có thễ sẵn sàng rút ra từ sự phân tách cuả Kinh Tạng về kinh nghiệm thành ngủ uẩn, trong đó bốn uẩn tinh thần (thọ tưởng, hành thức) luôn gắn kết không rời, nhưng khái niệm vẩn còn đấy chỉ như là gợi mở.

Trong Luận Tạng sự gợi mở không chỉ là chỉ ra mà còn là mở rộng thành một bức tranh cực kỳ chi tiết và chặt chẽ cuả chức năng nhận thức trong cả trong khoảnh khắc tức thì vĩ mô lẫn trong sự miên tục (liên tục triền miên) đời đời.

Sự đóng góp thứ ba khởi sinh từ sự thôi thúc thiết lập trật tự giưã đám lộn xộn cuả các thuật ngữ làm nên sự phổ biến cuả các bài giảng Phật giáo. Trong việc xác định mỗi trong chư pháp, các văn bản cuả Luận tập hợp các danh sách liệt kê dài các từ đồng nghiã hầu hết rút ra từ Tạng kinh. Phương pháp định nghiã này cho thấy cách mà một pháp riêng lẻ có thể mang những tên khác nhau vào trong các bộ phạm trù khác nhau. Ví dụ, trong những phiền não, yếu tố tinh thần cuả thân (lobha) có thể tìm thấy như là nhiễm dục cảm quan, nhiễm (ham) sống, sự ràng buộc tham lam về thể xác, đeo bám các thú vui cảm quan, sự cản ngại cuả ham muốn cảm quan, etc; trong số những yêu cầu giác ngộ, yếu tố tinh thần cuả trí tuệ (panna) có thể được tìm thấy với tư cách là khã năng và sức mạnh cuả trí tuệ, yếu tố giác ngộ cuả việc truy vấn các tình trạng, yếu tố dẫn đạo cuả chính kiến, etc.Trong vệc thiết lập các mối quan hệ này, Luận giúp hiển bày mối quan hệ hỗ tương giưã các thuật ngữ trừu tượng có thể không rõ ràng chính trong chư Kinh.Trong quá trình nó cũng cung cấp các công cụ chế tác chính xác để hiểu các bài giảng cuả Đức Phật.

Sự đóng góp thứ ba khởi sinh từ sự thôi thúc thiết lập trật tự giưã đám lộn xộn cuả các thuật ngữ làm nên sự phổ biến cuả các bài giảng Phật giáo. Trong việc xác định mỗi trong chư pháp, các văn bản cuả Luận tập hợp các danh sách liệt kê dài các từ đồng nghiã hầu hết rút ra từ Tạng kinh. Phương pháp định nghiã này cho thấy cách mà một pháp riêng lẻ có thể mang những tên khác nhau vào trong các bộ phạm trù khác nhau. Ví dụ, trong những phiền não, yếu tố tinh thần cuả thân (lobha) có thể tìm thấy như là nhiễm dục cảm quan, nhiễm (ham) sống, sự ràng buộc tham lam về thể xác, đeo bám các thú vui cảm quan, sự cản ngại cuả ham muốn cảm quan, etc; trong số những yêu cầu giác ngộ, yếu tố tinh thần cuả trí tuệ (panna) có thể được tìm thấy với tư cách là khã năng và sức mạnh cuả trí tuệ, yếu tố giác ngộ cuả việc truy vấn các tình trạng, yếu tố dẫn đạo cuả chính kiến, etc.Trong vệc thiết lập các mối quan hệ này, Luận giúp hiển bày mối quan hệ hỗ tương giưã các thuật ngữ trừu tượng có thể không rõ ràng chính trong chư Kinh.Trong quá trình nó cũng cung cấp các công cụ chế tác chính xác để hiểu các bài giảng cuả Đức Phật.

Nhận thức cuả Luận về ý thức mang lại kết quả xa hơn nưã trong một sơ đồ quan trọng để phân loại các yếu tố tối thượng hình thành hiện thực, một sơ đồ cuối cùng, trong văn bản cuả Luận về sau chiếm ưu thế hơn các sơ đồ thừa kế từ Tạng Kinh như là uẩn, xứ, đại. Trong Luận Tạng, các phạm trù sau vẫn còn rõ ràng, nhưng quan điểm về tâm như là bao gồm những dự hội tụ thoáng qua cuả ý thức và các yếu tố tuỳ thuộc dẫn đến phương pháp phân loại gấp bốn phù hợp hơn với hệ thống. Đó là việc phân chia hiện thực ra thành bốn thực thể tối thượng (paramattha): ý thức, các yếu tố tinh thần, các hiện tượng vật chất và Niết bàn (citta, cetasika, rupa, nibbana), ba cái trước bao gồm hiện thực bị ràng buộc (bị qui định) và cái cuối cùng là yếu tố không bị qui định.

Điểm mới cuối cùng cuả phương pháp cuả Luận được ghi nhận ở đây - do quyển cuối cùng cuả Tạng đóng góp,là Bộ Vị Trí (Phát Thú - Patthana ) là một bộ 24 mối quan hệ ràng buộc được đưa ra làm thấy cách các hiện thực tối tượng được kết thành các quá trình trật tự. Sơ đồ này cuả các điều kiện cung cấp sự bổ sung cần thiết cho phương pháp phân tích thống trị các quyển trước cuả Luận. Phương pháp phân tích tiến hành bằng cách phân chia cái toàn thể hiển nhiên thành các yếu tố thành phần cuả chúng, theo đó phơi bày cái không cuả bất cư cốt lõi bất khả phân nào mà có thể cho là ngã hay chất. Phương pháp tổng hợp sắp xếp các mối quan hệ có điều kiện cuả các hiện tượng trần trụi do sự phân tích đem lại cho thấy chúng không phải là các đơn vị tự hữu biệt lập mà là những nút trong một mạng nhiều tầng lớp mênh mông cuả các sự kiện tương liên, tuỳ thuộc lẫn nhau. Chẳng hạn, phương pháp phân tích những bài giảng trước đây cuả Luận Tạng và phương pháp tổng hợp cuả Bộ Vị Trí (Phát Thú - Patthana thiết lập sự thống nhất nền tảng cho những nguyên lý triết học song sinh cuả Phật giáo, vô ngã (anatta, non-self hay egolessness). Do đó nền tảng cuả phương pháp luận cuả Luận vẫn là sự hài hoà tuyệt vời với sự chiếu kiến nội quan nằm trong lòng cuả Pháp.

Các nguồn gốc của Tạng Luận (Vi Diệu Pháp)

Mặc dù học thật phê bình hiện đại cố gắng giải thích sự hình thành cuả Luận bằng quá trình phát triển tiến hoá dần dần, chính thống giáo Therevada cho rằng sự ra đời cuả nó gắn với Đức Phật. Theo Đại luận văn (maha-atthakathaa) do Acariya Buddhaghosa trích dẫn, Luân được biết không phải là lĩnh vực cũng không phải là phạm vi cuả một tông đồ; nó là phạm vi, lĩnh vực cuả chư Phật. Hơn nưã, truyền thuyết luận văn cho rằng nó không chỉ là tinh thần cuả Luận, mà cả ngôn từ nuã, đã được Đức Phật thực hiện và rao giảng trong khi ngài còn tại thế.

Atthasalini kể rằng trong bốn tuần lễ sau khi Đại ngộ, trong khi Đức Thế tôn vẫn còn lưu lại trong phạm vi gần Cội Bồ Đề, ngài an toạ trong một ngôi nhà bằng châu báu (ratanaghara) về hướng tây bắc. Ngôi nhà này không phải thật sư làm bằng đá quí, nhưng là nơi ngài quán tưởng về bảy quyển thuộc Luận Tạng. Ngài tuần tự quán tưởng về nội dung cuả chúng, bắt đầu với quyển Pháp Tụ - Dhammasangani, tuy nhiên trong khi quán xét sáu quyển đầu, thân ngài không phát hào quang. Nhưng khi ngài quán tưởng đến quyển Vị Trí (Phát Thú - Patthana, khi ngài quán tưởng đến 24 mối quan hệ ràng buộc như căn nguyên, đối tượng , và v.v. đại trí cuả ngài mới tìm thấy cơ duyên trong đó. Như đại kình ngư Timiratipingala chỉ tìm thấy nơi vẫy vùng cuả mình ở độ sâu 84.000 yojana dưới biển sâu, như thế, đại trí cuả ngài chỉ tìm thấy đất dụng võ trong Đại thư. Hào quang sáu màu - xanh ngọc, vàng ánh kim, đỏ, trắng, vàng nâu và ánh kim lấp lánh - phóng ra từ thân cuả Đấng Đại sư, khi ngài quán tưởng Pháp vi diệu, cơ duyên cho đại trí cuả ngài.

Chính thống giáo Therevada do đó chủ trương rằng Luận Tạng là chân ngôn cuả Phật, về phương diện này khác với một trường phái đối lập trước đây, trường phái Sarvastivadins. Trường phái này cũng có Luận Tạng gồm bảy quyển, khác về chi tiết với những bài giàng cuả Phật Giáo Nguyên Thủy Therevada. Theo phái Sarvastivadins, các quyển thuộc Luận Tạng là do các đệ tử Phật soạn ra, trong đó có mấy quyển được cho là cuả các tác giả có vẻ thuộc các thế hệ sau Đức Phật. Tuy nhiên trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy Therevada cho rằng chính Đấng Thế Tôn đã giảng các quyển thuộc Tạng Luận, ngoại trừ việc bác bỏ có thẳng thừng những quan điểm khác biệt trong Bộ Ngữ Tông (Biện Giải - Kathavatthu), là tác phẩm cuả kỳ lão Moggaliputta Tissa trong thời trị vì cuả Hoàng đế Asoka

Các bản Chú Giải Pali, rõ ràng căn cứ vào một truyền thuyết truyền miệng, cho rằng Đức Phật giảng Luận, không phải trong cõi người cho các đệ tử người cuả ngài, mà là cho một tập hợp chư thiên trên cõi trời Tavatimsa (Đạo lợi). Theo truyền thuyết này, chỉ trước khi nhập thất hằng năm lần thứ bảy vào muà mưa, Đức Thế tôn thăng lên cõi trời Đạo lợi và ở đấy, an toạ trên đá Pandukambala dưới gốc cây Paricchahataka, trong ba tháng muà mưa ngài giảng Luận cho chư thiên tập hợp từ ba nghìn thế giới. Người được chọn nhận pháp chính là mẹ ngài, Mahamaya-devi, người đã tái sinh lên cõi trời thay vì cõi người. Lý do Đức Phật giảng Luận trên cõi trời thay vì cõi người, theo truyền thuyết, là để có thể giảng Luận trọn trong một buổi giảng về toàn cảnh cuả Luận từ đầu đến cuối cho cùng đối tượng thính giả.. Bởi vì trình bày đầy đủ Luận cần ba tháng, chỉ chư thiên và Trời Phạm Thiên (Bhrama) mới có thể tiếp thu liên tục không gián đoạn, vì chỉ có họ mới có khả năng giữ vững ở một tư thế trong thời gian dài như vậy.

Tuy nhiên, mỗi ngày, để duy trì thân thể của mình, Đức Phật xuống cõi người khất thực ở vùng phiá bắc Uttarakuru. Sau khi khất thực xong, ngài đi đến bờ hồ Anotatta để thọ trai. Trưởng lảo Sariputta, Tổng Trì Pháp, sẽ đến diện kiến Đức Phật để nhận tóm tắt giáo lý giảng trong ngày trên cõi trời: Rồi Đức Phật trao cho ông phương pháp, nói rằng, “Sariputta, có vô vàn giáo pháp đã được trình bày” . Như thế đấy, Đức Phật trao phương pháp cho truởng lão, người rất giỏi về kiến thức phân tích, khi ngài đứng trên bờ và mở bàn tay chỉ ra biển. Đối với Trưởng lão giáo pháp do Đức Thế tôn giảng dạy bằng trăm ngàn phương pháp cũng trở nên sáng tỏ."

Học được Pháp từ Đức Thế tôn, Sariputta lại đem truyền lại cho 500 đồ đệ cuả mình, và thế là bản Chú Giải Luận Tạng được thiết lập. Đối với Đại đức Sariputta được cho là sắp đặt trật tư cuả các bài giảng cuả Luận Tạng cũng như là đánh số thứ tự trong quyển Vị Trí (Phát Thú – Patthana). Có lẽ ta nên tìm thấy trong những xác nhận này cuả Atthasalini một sự xác nhận gián tiếp rằng trong khi nhãn quan triết học và cấu trúc nền tảng cuả Luận Tạng là xuất phát từ Đức Phật, việc trình bày các chi tiết, và ngay cả chính khuôn mẫu văn bản là thuộc về Đại tông đồ và các đồ đệ cuả ông. Trong các trường phái đạo Phật khác cận thời Đức Phật, thì Luận cũng liên quan mật thiết đến Đaị đức Sariputta, người mà theo các truyền thuyết được coi là tác giả văn bản cuả các bài giảng cuả Luận.

 

Phần II

Bảy Quyển Tạng Luận

Việc tóm tắt nội dung cuả bảy quyển trong kho tàng Tạng Luận sẽ cung cấp

Dhammasangani, là suối nguồn cuả toàn hệ thống. Tưạ đề có thể dịch là “Pháp Tụ”, và tác phẩm làm công việc rõ ràng là soạn thảo một bản thống kê hoàn chỉnh

 các yếu tố cấu thành tối thượng cuả hiện thực.

Mở đầu với Mẫu Đề-Matika, bản lược đồ về các phạm trù làm khung cho toàn bộ Luận, bản Chú Giải được chia thành bốn chương. Chương thứ nhất “Các trạng thái cuả Ý thức,” chiếm khoảng nưả cuốn sách và mở ra như là một bản phân tích bộ ba đầu tiên trong Mẫu Đề-Matika, an lành, không an lành và cái giưã cuả hai cái đó. Để phân tích điều đó, bản Chú Giải liệt kê 121 loại ý thức phân loại bằng phẩm chất đạo đức cuả chúng.9 Mỗi loại ý thức lại được phân ra các yếu tố tinh thần tuỳ thuộc, mà mỗi cái được định nghiã đầy đủ. Chương hai, “Về Chất” , tiếp tục tìm hiểu các yếu tố trung gian sẵn có bằng cách liệt kê và phân loại các loại hiện tượng vật chất khác nhau. Chương ba, gọi là “Tóm tắt,” đưa ra các giải thích về tất cả các thuật ngữ trong trận đồ Luận và cũng như trong Tạng Kinh.

The Vibhanga, “quyển Phân tích”, gồm tám chương, mỗi chương là một chủ đề trọn vẹn, lần lượt đề cập đến các vấn đề sau: uẩn, căn, đại, chân lý, năng lưc, duyên sinh, cơ sở cuả trí, nỗ lực tối thượng, các yếu tố cuả ngộ, bát chính đạo, các cảnh giới thiền, vô hạn, nguyên tắc rèn luyện,tri kiến phân tích, các loại tri kiến, các tiểu tiết (liệt kê các bất tịnh) và tâm cuả pháp (Dhammahadaya), và đồ hình tâm lý vũ trụ cuả vũ trụ Phật giáo. Hầu hết các chương trong quy ển Phân Tích-Vihanga, mặc dù không phải là tất cả, liên quan đến ba phần nhỏ: phân tích theo phương pháp luận cuả chư Kinh, phân tích theo phương pháp luận cuả chính Luận; và phần tra vấn, áp dụng các phạm trù cuả trận đồ vào chủ đề nghiên cứu.

Dhatukatha, “Bộ Chất Ngữ” được viết dưới dạng tóm tắt hỏi đáp. Nó thảo luận tất cả các hiện tượng với sự tham chiếu các sơ đồ uẩn, căn, đại, tìm cách xét xem các hiện tượng ấy có bao gồm trong, hay quan hệ hay không quan hệ với ba yếu tố đó và ở chừng mức nào. 

 Puggalapannatti, “Bộ Nhơn Chế Định” là một quyển trong Luận Tạng có phương pháp giống Tạng Kinh hơn là Luận. Tác phẩm bắt đầu với việc đếm tổng quát các loại khái niệm, và điều này cho thấy rằng khởi thuỷ nó đươc dự định làm bổ sung cho các quyển khác để tính đến các thực thể khái niệm bị loại ra khi áp dụng khắc khe phương pháp cuả Luận. Công việc đồ sộ này cho những định nghiã chính thức cuả các loại cá thể khác nhau. Có 10 chương:chương đầu đề cập các loại đơn lẻ cuả các cá thể; chương hai về các căp; chương ba về các nhóm ba, v.v.

Kathavatthu”Bộ Ngữ Tông” là những luận đề biện luận được cho là cuả Trưởng lão Moggaliputta Tissa. Ông được cho là đã soạn nó vào thời Hoàng đế Asoka, 218 sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, để phản bác các ý kiến không chính thống cuả các trường phái Phật giáo bên ngoài phạm vi cuả phái Nguy ên Thủy Therevada. Các Bản Chú Giải cho rằng chúng cũng thuộc vào các kho tàng kinh điển bằng cách lập luận rằng chính Đức Phật, thấy trước rằng các sai lầm sẽ phát sinh, đã đưa ra khung cuả các câu trả lời, mà Moggaliputta Tissa chỉ cần điền thêm vào theo định hướng cuả Đức Phật.

Yamaka, “Bộ Song Đôi” nhằm mục đích giải quyết các sư hàm hồ và xác định công dụng chính xác cuả các thuật ngữ. Nó được gọi bằng cái tên như vậy do phương pháp giải quyết cuả nó, sử dụng xuyên suốt sự nhóm đôi cú một vấn đề và phương thức đàm luận cuả nó. Chẳng hạn cặp các vấn đề đầu tiên trong chương thứ nhất như sau: “Có phải tất cả các hiện tượng an lành là căn nguyên an lành? Và tất cả các căn nguyên an lành là hiện tượng an lành? Quyển này có 10 chương: các căn nguyên, uẩn, căn, đại, chân, sắc, bản chất tiềm ẩn, ý thức, hiện tượng, và khả năng.

Patthana, “Bộ Vị Trí” (bị qui định, có điều kiện, trói buộc >< giải thoát) có lẽ là tác phẩm quan trọng nhất cuả Luận Tạng và do đó theo truyền thống vẫn được gọi là “Đại Luận Đề” (mahapakarana). Khổng lồ về qui mô cũng như thực chất, quyển này gồm 5 quyển tổng cộng 2500 trang, ấn bản Hội đồng thứ 6, chữ Myanmar. Mục đích cuả Bộ Vị Trí-Patthana là áp dụng sơ đồ hai mươi bốn quan hệ ràng buộc cuả nó vào tất cả các hiện tượng được thành lập trong trận đồ của Tạng Luận. Bộ phận chính cuả tác phẩm gồm bốn phần vĩ đại: Khởi nguyên theo phương pháp tích cực, theo phương pháp tiêu cực, theo phương pháp tiêu-tích cực và theo phương pháp tích-tiêu cực. Mỗi trong bốn phần này lại có sáu tiểu phần:

khởi nguyên cuả nhóm 3, cuả nhóm 2, cuả nhóm 2 và 3 kết hợp, nhóm 3 và nhóm 2 kết hợp, cuả nhóm 3 và nhóm 3 kết hợp, và cuả nhóm 2 và nhóm 2 kết hợp. Trong mô hình này có 24 phần, hai mươi bốn thức điều kiện được vận dụng đúng trật tự đối với các hiện tượng cuả hiện thực trong các dạng biến đổi nhận thức được cuả chúng. Dù có tính khô khan, nặng chất bảng biểu, ngay cả trên quan điểm nhân văn “thế tục” Patthana có thể dễ dàng được đánh giá như là một trong những sản phẩm thật sự kỳ vĩ cuả trí tuệ con người, đáng kinh ngạc trong tầm nhìn rộng lớn, sự chặt chẽ nghiêm ngặt, và sự quan tâm cẩn trọng đến chi tiết. Đối với chính thống giáo Therevada, đó chính là bằng chứng hùng hồn nhất về trí huệ chí tôn vô ngại của Đức Phật.

Những bản chú giải

Các quyển cuả Luận Tạng đã tạo cảm hứng cho một khối lượng đồ sộ bài viết có tính giảng giải được biên soạn nhằm lắp kín phần khung sườn do bản văn cuả các kinh điển dựng nên, bằng cách giải thích nêu ví dụ. Những tác phẩm quan trọng nhất thuộc loại này là các chú giải được công nhận cuả Acariya Buddhaghosa. Có ba tác phẩm: Atthasalini, “Phát lộ”, luận văn về Dhammasagani; Sammohavinodani, “ Loại trừ Vọng tưởng”, luận văn về Vibhanga; và Pancappakarana Atthakatha, luận văn kết hợp cho 5 luận đề khác Visuddhimagga, “Thanh Tịnh Đạo” cũng thuộc bình diện văn bản này cũng cuả Buddhaghosa. Tuy nhiên tác phẩm cuối này chủ yếu là sự hướng dẫn bách khoa về thiền, các chương cuả nó về “ kiến giải” (XIV -XVII) trình bày lý thuyết cần nắm vững trước khi tiến đến kiến chiếu nội quan và do đó hình thành cách hiệu quả luận đề cô đọng về Luận. Mỗi luận văn lại có tiểu luận văn (mulatika), do Trưởng lão cuả Sri Lanka tên là Acariya Ananda, và những tiểu luận này lại có tiểu tiểu luận (anutika), do học trò cuả Ananda là Dhammapala (khác với Acariya Dhammapala tôn kính, tác giả cuả các luận văn về các tác phẩm cuả Buddhaghosa).

Khi tác quyền cuả các chú giải được cho là cuả Acariya Buddhaghosa, thì không nên cho rằng, theo cách nào đó dù chúng là các bài luận gốc, hoặc là nỗ lực gốc để diễn đạt các tư liệu truyền thống. Mà thực ra, chúng là những bản được hiệu đính cẩn thận từ khối lượng lớn bao la cuả các tư liệu giải thích mà Ngài Buddhaghosa tìm thấy ở Mahavihara ở Anuradhapura. Tư liệu này ắt hẳn có trước nhà viết luận vĩ đại nhiều thế kỷ, đại diện cho nỗ lực tập hợp cuả các thế hệ các nhà giảng dạy Phật học uyên bác nhằm tìm hiểu ý nghiã cuả kho tàng kinh điển Luận Tạng. Trong khi cố gắng làm rõ bằng cứ cuả sự phát triển có tính lịch sử trong các Luận văn trên và vượt các ý tưởng gắn chặt trong Luận Tạng có sức

cuốn hút hấp dẫn, thì việc đẩy việc làm này đi quá xa cũng là nguy hiểm, bởi vì phần nhiều Luận kinh điển dường như đòi hỏi các Luận văn đóng góp các điều kiện quan hệ thống nhất trong đó mọi yếu tố riêng lẻ gắn kết vào nhau như là các thành phần cuả toàn thể hệ thống và không có điều đó chúng sẽ mất các chiều kích quan trọng cuả ý nghiã. Do đó mà không phải không hợp lý khi cho rằng phần đáng kể cuả toàn bộ khối các bản chú giải là bắt nguồn thật gần gũi với Tạng Luận kinh điển và được truyền bá đồng thời với Tạng Luận kinh điển, nhưng thiếu dấu ấn khoá sổ nên nó để ngỏ cho sự thay đổi và đào sâu theo cách mà các chú giải kinh điển không được như vậy. 

Xin lưu ý điều này, chúng ta có thể ghi nhận ngắn gọn một ít khái niệm cuả Luận Tạng mang tính chất cuả các Luận văn nhưng hoặc là không được biết đến hay là ẩn chứa trong chính Luận Tạng. Một trong số đó là bài về quá trình nhận thức (cittavithi) Trong khi khái niệm này có vẻ như được ngầm công nhận trong các kinh điển, bây giờ nó được đem ra sử dụng như là công cụ giải thích vì yêu cầu cuả chính nó. Các chức năng của các citta, các loại khác nhau cuả ý thức, được nêu cụ thể, và theo thời gian chính các citta được gọi tên bằng chức năng cuả chúng. Thuật ngữ khana, khoảnh khắc”, thay cho samaya (“cơ hội”) cuả kinh điển như là đơn vị cơ bản gỡ bỏ giới hạn sự xuất hiện cuả các sự kiện, và khoản thời gian cuả một hiện tượng vật chất được xác định bằng 17 khỏanh khắc cuả các hiện tượng tinh thần. Sự phân chia một khoảnh khắc thành ba tiểu khoảnh khắc - sinh, dị, diệt - có vẻ như cũng mới mẻ đối với các bản chú giải. Việc tổ chức các hiện tượng vật chất thành các nhóm (kalapa), dù được hàm ý bởi sự phân biệt giưã các yếu tố nguyên sơ cuả vật chất và những chất phái sinh, lần đầu tiên được nêu rõ trong các bản chú giải, như là đặc điểm cuả cơ sở tâm (hadayavatthu) như là cơ sở vật chất cuả các yếu tố thuộc tâm về yếu tố tâm-thức.

Các bản chú giải giới thiệu nhiều (dù không hết) các phạm trù để phân loại kamma (nghiệp), và đưa ra các mối quan hệ hỗ tương giưã kamma và kết quả cuả nó. Chúng cũng chốt lại tổng số các yếu tố tinh thần. Cụm từ trong Dhammasangani, “ hoặc bất cứ các hiện tượng phi vật chất duyên sinh khác (chưa đề cập) có vào dịp đó,” rõ ràng hình dung một vũ trụ mở cuả các yếu tinh thần, mà các bản chú giải đã gỡ bỏ giới hạn bằng cách nêu rõ “ hoặc bất cứ trạng thái nào” (yevapanaka dhamma). Một lần nưã, các bản chú giải hoàn chỉnh pháp luận bằng cách cung cấp định nghiã chư pháp như là “ những sự vật mang bản chất tự thân” (attano sabhavam dharenti ti dhamma).

Nhiệm vụ định nghiã chư pháp cụ thể cuối cùng được chỉnh chu bằng cách sử dụng chuyên sâu công cụ định nghiã bốn lớp về tính chất, chức năng, biểu hiện và nguyên nhân gần kề, một công cụ xuất phát từ hai bản văn giải thích cổ là Petakopadesa và Nettipakarana.

Vi Diệu Pháp toát yếu

Khi hệ thống Luận, về mặt phiên bản kinh điển cuả nó đã là đồ sộ rồi, phát triển thêm về dung lượng và độ phức tạp, thì việc nghiên cứu, lãnh hội nó ắt hẳn phải càng trở nên khó khăn, nặng nề. Do đó ở một giai đoạn tiến hoá nào đó cuả tư tưởng Phật giáo Therevada, người ta ắt phải cảm thấy nhu cầu cần có những tóm tắt chính xác cuả Luận như là một tổng thể để cung cấp cho những tân sinh về chủ đề này một cái nhìn rõ ràng về sơ nét cấu tạo chính cuả nó - một cách thấu suốt và thành tín mà không cần những chi tiết đồ sộ khó kham nổi.

Để đáp ứng nhu cầu này, đã bắt đầu xuất hiện, có lẽ sớm khoảng thế kỷ 15 và tiếp tục qua thế kỷ 12, các sổ tay ngắn gọn hay yếu lược cuả Luận. Ở Miến Điện Myanmar, những quyển loại này được gọi là let-than hay là “sổ tay ngón út”, trong đó có chín như sau:

1) Abhidhammattha, cuả Acariya Anuruddha;
2) Namarupa-pariccheda, cùng tác giả
3) Paramattha-vinicchaya, cùng tác giả (?);
4) Abhidhammavatara cuả Acariya Buddhadatta ( một bậc trưởng thượng đồng thời với Buddhaghosa);
5) Ruparupa-vibhaga, cùng tác giả
6) Sacca-sankhepa, cuả Bhadanta Dhammapala (có lẽ người Sri Lanka; khác với nhà viết tiểu luận văn vĩ đại);
7) Moha-vicchedani, cuả BhadantaKassapa (Người Nam Ấn hoặc Sri Lanka);
8) Khema-pankarana, cuả Bhadanta Khema (người Sri Lanka);
9) Namacara-dipaka, cuả Bhadanta Saddhamma Jotipala (Người Myanmar).

Trong số đó, tác phẩm đã thống ngự việc tu học, nghiên cứu Luận từ khoản thế kỷ 12 cho đến hiện nay là quyển được đề cập trước tiên, quyển Abhidhammattha Sangaha, ( Vi Diệu Pháp toát yếu ). Nó được phổ biến có lẽ do sự quân bình đáng khó bì cuả nó giưã tính chính xác và tính lĩnh hội. Trong phạm vi ngắn gọn cuả nó mọi điều cốt yếu cuả Luân đã được tóm gọn cẩn trọng. Dù rằng cách xử lý cuả sách thật ngắn gọn ngay cả với những điểm không rõ ràng nếu đọc riêng lẻ, nhưng khi học tập, nghiên cứu dưới sự hướng dẫn cuả một thầy có năng lực hoặc với sự hỗ trợ cuả người hướng dẫn giải thích, nó dẫn dắt người học tự tin đi qua mê cung khúc khuỷu cuả hệ thống để đạt đến sự nhận thức minh bạch về toàn bộ cấu trúc cuả nó.Vì lý do đó, trong toàn bộ thế giới Phật giáo Therevada, Vi Diệu Pháp toái yếu - Abhidhammattha Sangaha luôn được dùng như quyển sách giáo khoa đầu tiên trong việc tu học Luận. Trong các tu viện Phật giáo, đặc biệt là ở Miến Điện - Myanmar, tân sinh và các tỳ kheo trẻ được yêu cầu học thuộc lòng Sangaha trước khi nghiên cứu các quyển thuộc Luận Tạng và các Luận văn cuả nó.

Những chi tiết về tác giả cuả quyển sổ tay này, Acariya Anuruddha, thật ra không có. Ông được coi là tác giả cuả hai quyển sổ tay khác, như nêu trên, và được các quốc gia Phật giáo tin rằng ngài đã viết cùng với chín quyển yếu lược khác, trong đó chỉ có 3 quyển là còn sót lại. Quyển Paramattha-vinicchaya được viết theo văn phong uyển chuyển cuả ngôn ngữ Pali và đạt được đẳng cấp cao cuả văn chương tuyệt tác. Theo mấy dòng ghi cuả nhà xuất bản, tác giả cuả nó sinh ra tại Kaveri, bang Kancipura (Conjeevaram), Nam Ấn. Cả Acariya Buddhadatta và Acariya Buddhaghosa đều được nói là ở cùng một vùng, và nhà viết tiểu luận văn Acariya Dhammapala có lẻ là người bản điạ cuả vùng này. Có bằng cớ rằng trong vòng mấy thế kỷ Kancipura đã là trung tâm quan trọng cuả Phật giáo Therevada từ đó các tỳ kheo uyên bác đã đến Sri Lanka để tu học thêm.

Không biết được chính xác Acariya Anuruddha sống vào thời gian nào và viết các quyển sổ tay cuả ông khi nào. Truyền thuyết cổ trong tu viện cho rằng ông từng là bạn học cùng thầy cuả Acariya Buddhadatta, điều này đã đặt ông vào thế kỷ thứ năm. Theo truyền thuyết này, hai trưởng lão viết các quyển sách tương ứng cuả mình, quyển Abhiddhammattha Sangaha và quyển Abhidhammavatara, làm quà tạ ơn thầy mình, người nhận xét rằng: “Buddhadatta đã chưá châu báu đầy phòng cuả mình và khoá cưả laị, trong khi Anuruddha cũng chưá châu báu đầy phòng nhưng để cưả mở toang.” Tuy nhiên các học giả hiện đại không xác nhận truyền tuyết này, cho rằng căn cứ vào văn phong và nội dung cuả tác phẩm cuả Anuruddha thì ông không thể nào sống sớm hơn thế kỷ thứ tám, có lẽ hơn là vào giưã thế kỷ mười và đầu thế kỷ 9. 

Trong dòng ghi cuả nhà xuất bản đối với quyển Abhidhammatta Sangaha, Acariya Anuruddha nói rằng ông viết quyển sổ tay này tại tu viện Mulasoma, mà tất cả các truyền thuyết giải thích cho rằng ở Sri Lanka. Có mấy cách để dung hoà sự kiện này với các khổ thơ kết luận quyển Paramattha-vinicchaya, nói rằng ông sinh ra tại Kancipura. Một giả thuyết cho rằng ông là người gốc gác Nam Ấn nhưng di chuyển đến Sri Lanka, nơi ông viết Sangaha. Một giả thuyết khác, do G.P.Malalasekera, cho rằng ông là người bản điạ cuả Sri Lanka có trải qua thời gian ở Kancipura (điều này tuy nhiên, bỏ qua xác nhận cuả ông là ông sinh ở Kancipura). Vẫn còn giả thuyết thứ ba do Đại đức A.P. Buddhadatta Mahathera đề xuất, khẳng định rằng có hai vị sư khác nhau tên Anuruddha, một ở Sri Lanka, người là tác giả quyển Abhiddhammattha, và một người ở Kancipura, viết quyển Paramattha-vinicchaya.

Các Luận văn về Phân Loại - Sangaha

Vì vào tính cực kỳ cô động cuả nó, Vi Diệu Pháp toái yếu -Abhidhammattha Sangaha không thể dễ dàng hiểu được nếu như không có sự giảng giải. Vì thế làm sáng tỏ yếu lượt cô đúc đặc quánh cuả triết học cuả Luận, một lượng rất lớn các tika hay là luận văn đã được viết về nó. Thật ra, tác phẩm này có lẽ đã tạo ra cảm hứng cho nhiều luận văn hơn bất cứ bản văn Pali nào khác, được viết không những bằng ngôn ngữ Pali mà còn cả bằng tiếng Myamar, Sinhala, Thái v.v.Từ thế kỷ thứ 15, Myanmar đã là trung tâm quốc tế về nghiên cứu Luận, và do đó chúng ta tìm thấy nhiều luận văn viết về nó cuả các học giả Miến Điện (Myanmar) cả bằng tiếng Pali và tiếng Myanmar.Các luận văn về Sangaha chỉ bằng tiếng Pali không thôi cũng lên đến con số 19, trong đó quan trọng nhất là:

Abhidhammatthasangaha - Tika, cũng còn biết đến như là Porona-Tika, “Cổ Luận văn”. Đây là một tika nhỏ viết bằng tiếng Sri Lanka vào thế ky 12 bởi một trưởng lão tên là Acariya Navavimalabuddhi.

Abhidhammatthavibhavini - Tika, hay gọi tắt, Vibhavini, tác giả là Acariya Sumangalasami, học trò cuả trưởng lão người Sri Lanka xuất chúng, cũng vào thế kỷ 12. Tika này nhanh chóng thế chỗ Cổ Luận văn và được nhìn nhận rộng rãi như là tác phẩm giải thích sâu sắc và đáng tin cậy về Sangaha. Ở Myanmar, tác phẩm này có tên là tika-gyaw, “Luận văn nổi tiếng”. Tác giả rất được kính trọng vì sự am tường và uyên bác cuả ông về Luận. Ông dưạ nhiều vào các các phẩm có uy tín cổ như là Abhidhamma-Anutika và Visuddhimagga-Mahatika (còn có tên là Paramatthamanjusa) Mặc dù Ledi Sayadaw (xem bên dưới) phê bình mạnh mẽ Vibhavini trong luận văn cuả mình về Sangaha, sự phổ biến cuả nó không hề suy giảm mà thật sự còn tăng lên, và một số học giả Myanmar đã đứng lên bảo vệ nó trước sự phê bình cuả Ladi Sayadaw.

Sakhepa-vannana, được viết vào thế kỷ 16 do tác giả Bhadanta Saddhamma Jotipala, còn có tên là Chapada Mahathera, một nhà sư Myanmar đã thăm Sri Lanka trong thời trị vì cuả vua Parakramabahu VI cuạ triều đại Kotte (thế kỷ 15).

Paramatthadipani-Tika, “ Minh giảng vế Nghiã Tối thượng” cuả Ledi Sayadaw cuả Myanmar (1845-1923) là một rong những nhà sư học giả và thiền sư vĩ đại nhất cuả truyền thống Therevada thời cận đại. Ông là tác giả cuả hơn 70 sổ tay về các phương diện khác nhau của Phật giáo Therevada, gồm triết học, đạo đức học, tu tập thiền, và ngữ pháp Pali. Tika cuả ông đã tạo nên một hiện tượng chấn động trong lĩnh vực nghiên cứu Luận bởi vì ông chỉ ra 325 chỗ quan yếu trong Vibhavini-tika mà ông cho là có sai lầm và hiểu sai, tuy nhiên sự phê bình cuả ông đã làm dấy lên phản ứng bảo vệ tác phẩm cổ hơn đó.

Ankura-Tika, tác giả Vimala Sayadaw. Tika này đươc viết 15 năm sau khi ấn hành quyển Paramatthadipani và ủng hộ các ý kiến được rộng rãi chấp nhận về Vibhavini chống lại sư phê bình cuả Sayadaw,

Navanita-Tika, tác giả là học giả Ấn tên là Dhammananda Kosambi, thoạt đầu xuất bản bằng chữ devanagari vào 1993. Tưạ quyển sách theo nghiã đen là “Luận văn Bơ”, và được gọi như vậy có lẽ là do nó giải thích Sangal bằng một cách trơn tru, gọn nhẹ, tránh những tranh cãi có tính triết học

Sơ lược về Sangaha

Quyển Abhidhammattha Sangaha có chín chương. Nó mở đầu bằng cách liệt kê bốn thực thể tối thượng - ý thức, các yếu tố tinh thần, vật chất và Niết bàn. Phân tích chi tiết các yếu tố này được đặt ra cho 6 chương đầu.

Chương I,  là Khái quát về Ý thức, định nghiã và phân loại 89 và 121 loại ý thức. Tầm bao quát cuả chương thứ nhất cũng đề cập cùng lĩnh vực như chương các Trạng thái cuả Ý thức cuả tác phẩm Dhammasangani, nhưng khác về phương pháp. Tác phẩm kinh điển này bắt đầu với sự phân tích nhóm ba đầu tiên trong matika, và do đó bắt đầu phân loại ý thức trên cơ sở ba phẩm chất đạo đức cuả an lành (wholesome), không an lành, và cái giưã hai cái trên (không quyết định); rồi trong phạm vi các phạm trù đó nó phân nhỏ ý thức trên cơ sở bình diện thành những lĩnh vực giác quan, lĩnh vực vật chất tế vi, lãnh vực phi vật chất và siêu phàm. Còn Sangala, trái lại không bị ràng buộc vào matika, trước tiên chia ý thức trên cơ sở bình diện và chia nhỏ nó trên cơ sở phẩm chất đạo đức.

Chương II, Khái quát vế các Yếu tố tinh thần, trước tiên liệt kê 52 tâm sở - cetasika hay là các yếu tố tuỳ thuộc cuả ý thức, được chia ra làm 4 lớp chung nhất, cá biệt, các yếu tố không an lành (bất tịnh) và các yếu tố tốt đẹp. Sau đó các yếu tố được nghiên cứu bằng hai phương pháp bổ sung: trước tiên, phương pháp gắn kết (sampayoganaya), cho các yếu tố tinh thần như là một đơn vị tra vấn và gợi mở các loại ý thức mà chúng trực tiếp gắn kết; và thứ hai phương pháp bao gồm hay gộp (sangahanaya), cho các loại ý thức là đơn vị tra vấn và gợi mở các yếu tố tinh thần thâm nhập vào cơ cấu cuả nhau. Chương này cũng chủ yếu rút ra từ chương thứ nhất cuả bộ Pháp Tụ - Dhammasagani.

Chương III, có tên là Khái quát các vấn đề linh tinh, xếp các loại ý thức cùng với các yếu tố cuả nó theo 6 phạm trù: căn cội (hetu), cảm xúc (feeling), chức năng (kicca), cưả (dvara), đối tượng (arammana), và cơ sở (vatthu).

Ba chương đầu liên quan chủ yếu đến cấu trúc cuả ý thức, cả nội tại và trong mối quan hệ với các biến đổi bên ngoài. Trái lại hai chương tiếp theo đề cập đến sự năng động cuả ý thức, tức là, với cách xuất hiện cuả chúng. Theo Luận, ý thức xuất hiện theo hai cách riêng biệt nhưng xoắn xuýt nhau - như quá trình tích cực và luồng tiêu cực (âm - dương).

Chương bốn,  nghiên cứu “quá trình cuả nhận thức” ,

Chương V, luồng tiêu cực “siêu quá trình”, được khai mào bằng một nghiên cứu về vũ trụ học truyền thống Phật giáo. Việc trình bày ở đây phần lớn dưạ vào cácbản chú giải về Luận.

Chương VI, Khái quát về vật chất, chuyển từ thế giới tinh thần sang thế giới vật chất. Được căn cứ trụ yếu vào chương hai cuả Bộ Pháp Tụ - D liệt kê các loại hiện tượng vật chất, phân loại chúng thành nhiều cách khác nhau, và giải thích các cách phát sinh cuả chúng. Nó cũng giới thiệu các khái niệm có tính chất giải thích về các nhóm vật chất, trình bày chi tiết, và mô tả sự xuất hiện cuả các quá trình vật chất trong các cảnh giới khác nhau cuả hiện thực. Chương này kết thúc với một phần nhỏ nói về bốn hiện thực tối thượng, Niết bàn, yếu tố duy nhất không bị ràng buộc trong cả hệ thống.

Với chương sáu, Acariya Anuruddha đã hoàn tất việc trình bày phân tích cuả mình về bốn thực thể tối thượng, nhưng vẫn hãy còn mấy vấn đề quan trọng phải được giải thích để đem lại bức tranh toàn cảnh cuả Luận. Điều này được thực hiện trong ba chương cuối.

Chương VII, Khái quát về các phạm trù, sắp xếp các thực thể tối thượng thành các bảng phạm trù đa dạng dưới bốn tiêu đề: Khái quát về cấu (phiền não, bất tịnh); khái quát về các phạm trù pha tạp, gồm các mục về các phẩm chất đạo đức khác nhau; khái quát về tính nhất thiết cuả giác ngộ; và Khái quát về cái toàn thể, một khảo sát toàn diện về bản thể học cuả Luận. Chương này dưạ gần như hẳn vào tác phẩm Vibhamga và trong chừng mực nào đó vào bộ Pháp Tụ - Dhammasangani.

Chương VIII, Khái quát về Sự qui định (Triền Phươc), được giới thiệu để gồm giáo lý cuả Luận về mối quan hệ tương hỗ cuả các hiện tượng vật chất tinh thần, theo đó hoàn thành việc đề cập mang tính phân tích về các thực thể tối thượng với sự trình bày tổng hợp phơi bày trần trụi các mối quan hệ tương hỗ chức năng cuả chúng. Sự trình bày tóm lược cho thấy hai phuơng pháp luân phiên nhau đối với sự qui định được tìm thấy trong kho tàng kinh điển Pali. Một là phương pháp duyên sinh (phát sinh tuỳ thuộc), nổi bật trong Tạng Kinh và đươc phân tích dưới gốc độ Kinh và Luận trong tác phẩm Vibhanga (chương VI).. Phương pháp này xem xét sự qui định về phương diện mô hình nhân-và-quả cho rằng có sự ràng buộc vớisamsara, vòng luân hồi sinh tử. Phương pháp khác là phương pháp Pattana, với hai mươi bốn mối quan hệ qui định. Kết thúc chương này là một bài ngắn về các khái niệm (pannatti), theo đó kéo theo cả Puggalapannatti, ít nhất là hàm ý như vậy

Chương IX và chương cuối cùng, liên quan, không phải tới lý thuyết mà là thực hành. Đây là chương Khái quát về Các Chủ đề Thiền. Chương này đóng vai trò như là tóm tắt Visuddhimagga. Nó khảo sát cô đọng các phương pháp thiền đươc giảng giải cặn kẽ trong tác phẩm sau, và đưa ra các bài viết cô động về các giai đoạn tiến bộ trong cả các hệ thống thiền, tập trung và nội quan. Là tác phẩm chủ chốt , nó tóm tắt, nó kết luận với một bài viết về bốn dạng người giác ngộ, các quả vị và chấm dứt luân hồi. Cách trình bày cuả tác phẩm Abhidhammattha Sangaha có lẽ dùng để nhấn mạnh việc cưú thế tối thượng cuả Luận. Tất cả phân tích lý thuyết về tâm và vật cuối cùng hội tụ về thực hành thiền, và thực hành đi đến tột đỉnh trong sự đạt mục tiêu tối thượng cuả đạo Phật, giải thoát tâm bằng vô chấp.

Send comment
Your Name
Your email address
(View: 59230)
Để giúp cho đọc giả có thể nắm được sự khác biệt giữa thiền định (chỉ quán) và thiền Vipassana (tuệ quán), sư Phước Nhân, một hành giả của thiền viện Phước Sơn, nói rõ về thiền định, thiền Vipassana, sự khác biệt giữa hai phương pháp tập cũng như khái quát phương thức tu tập và kết quả mà mỗi phương thức tu tập đem lại.
(View: 58108)
Khi tập ngồi thiền, điều khó khăn trước tiên là phải làm ngưng cái đầu ồn ào của mình. Nhiều người, dù cố gắng, cũng không thể nào làm yên được những tạp niệm trong đầu mình.
(View: 54257)
Một Tăng đoàn Phật giáo hoạt động đúng phải gồm bốn chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nữ cư sĩ và nam cư sĩ. Tất cả đều cần thiết như nhau để duy trì và hỗ trợ truyền thống và thực hành giáo pháp của Đức Phật.
(View: 46044)
Những lời Kinh tụng có linh nghiệm hay không? Sám hối có hết tội không? Làm sao để biết có sự linh nghiệm khi chúng ta tụng Kinh hoặc sám hối? Nếu những lời Kinh tụng chính là những bài Kinh do chính Đức Phật thuyết giảng (Giáo Pháp), khi chúng ta tụng, có nghĩa là chúng ta trùng tuyên hay lập lại
(View: 141640)
Thời gian an cư là 16/6 ÂL đến 15/9 ÂL, còn gọi là Tiền An cư (purimika vassūpanāyika). Nhờ có sự an cư kiết hạ mà chư Tăng, Ni mới làm cho Phật pháp được sống còn, vì có an cư kiết hạ mà Giới, Định, Tuệ mới có điều kiện phát huy. Nơi nào còn Giới, Định, Tuệ, nơi đó mới còn Phật pháp
(View: 25261)
45 năm, 45 mùa an cư kiết hạ của Đức Thế Tôn đã trải qua. Thời gian qua đi không bao giờ trở lại được nhưng những bước chân của Ngài và chư Tăng trên khắp nẻo đường để thuyết pháp tế độ chúng sanh vẫn lưu lại. Đó là hình ảnh đẹp, tấm gương sáng về một bậc vĩ nhân duy nhất trong tam giới này.
(View: 104235)
Quyết định chọn ngày lễ Tam Hợp như là ngày lễ Đức Phật Đản Sanh đã được nghi thức hoá tại hội nghị lần thứ nhất của Hội Đồng Phật Giáo Thế Giới - World Fellowship of Buddhists (W.F.B.) diễn ra tại Tích Lan vào năm 1950, mặc dù ngày nay các ngày lễ Phật giáo trên thế giới đã có truyền thống từ hàng thế kỷ nay.
(View: 19061)
Tứ Vô Lượng Tâm giúp con người trở nên toàn thiện và có lối sống của bậc thánh, trong kiếp hiện tại. Tứ Vô Lượng Tâm có khả năng biến đổi người thường ra bậc siêu nhân, phàm ra thánh. Bốn đức độ cao thượng ấy cũng được gọi là Appamannà (vô lượng). Gọi như vậy bởi vì Từ, Bi, Hỷ, Xả rộng lớn bao la, không bờ bến, không biên cương, không bị hạn định.
(View: 16914)
Kinh văn Pāli có ý nghĩa rõ ràng, không phải là mật chú. Người đọc tụng các bài Kinh Pāli nếu hiểu được ý nghĩa thì tín tâm sẽ được hun đúc, trí tuệ sẽ được phát triển, và phước báu càng thêm tăng trưởng. Nhờ vậy thời công phu tụng Kinh sẽ được thành tựu oai lực trọn vẹn, không những có kết quả hộ trì trong thời hiện tại, mà còn là nhân duyên để không bị xu huớng theo tà kiến ngoại đạo, để được gặp Phật, rồi nhờ vào thiện pháp đã tích lũy mà được thoát khỏi các nỗi khổ đau, và thành tựu quả vị giải thoát không còn sanh tử luân hồi trong ngày vị lai
(View: 18208)
Trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy - Nam Tông, câu kệ lễ Phật "Namo Tassa bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa" (phiên âm theo tiếng Việt: Ná-mô tá-sá phá-gá-vá-tô á-rá-há-tô sâm-ma sâm-bút-thá-sá) được dịch nghĩa theo kinh tụng Phật giáo Nam tông Việt Nam là "Con đem hết lòng thành kính làm lễ đức Bhagava đó, Ngài là bậc Araham cao thượng, được chứng quả chánh biến tri do ngài tự ngộ không thầy chỉ dạy"
(View: 17477)
12 nhân duyên sanh tử luân hồi được hình thành hay cụ thể hoá trong vòng bánh xe luân hồi. Sau này đối với bên Hán học bên Bắc Tông cụ thể là HT Minh Châu dịch là Duyên Khởi và sau này đối với Ngài Tịnh Sự thì đôi khi Ngài dịch là Duyên Sinh, đôi khi Ngài dịch là Liên Quan Tương Sinh, rồi sau cuối cùng của đời Ngài dịch là Y Tương Sinh
(View: 17032)
Sau ba tháng an cư mùa mưa, vào ngày kết thúc an cư mùa mưa, chư Tăng phải hội lại tại trú xứ mà mình nhập hạ để làm lễ tự tứ (pavāraṇā). Ngày Tự tứ có thể thực hiện vào ngày rằm tháng 9, cuối tháng 10 hoặc là trễ lắm là vào ngày rằm tháng 10 âm lịch, nghĩa là phải làm lễ tự tứ trong thời gian mùa mưa, không được quá mùa mưa. Pavāraṇā có nghĩa là sự thỉnh cầu (pavāreti), sự yêu cầu hay nói cách khác là sự thỉnh tội, tức là thỉnh cầu chư Tăng chỉ lỗi, nhắc nhở, khuyên bảo bằng tâm từ do thấy, do nghe, do nghi để vị Tỳ khưu đương sự thấy lỗi của mình mà sửa sai và hoàn thiện bản thân.
(View: 14792)
Tạng Luật (Vinayapiṭaka) thuộc về Tam Tạng (Tipiṭaka) là những lời dạy và quy định của đức Phật về các vấn đề có liên quan đến cuộc sống và sự sinh hoạt của các thành viên cũng như các công việc của hội chúng, trong đó, chủ yếu đề cập đến các tỳ khưu, một phần dành cho tỳ khưu ni, đồng thời một số vấn đề có thể áp dụng cho hàng tại gia cư sĩ cũng được tìm thấy.
(View: 20174)
Đây là lễ hội hàng năm duy nhất của Phật giáo có từ thời Đức Phật còn tại thế. Đối với những người dân theo Phật giáo Nguyên thủy, đại lễ dâng y kathina mang một ý nghĩa hết sức to lớn, vừa thể hiện thiện tâm của người phật tử đối với việc hộ trì tăng đoàn, vừa tạo nên niềm vui lớn trong mùa lễ hội cho người phật tử tại gia, đồng thời đại lễ dâng y cũng còn nhắc nhở cho tứ chúng, cả hàng phật tử xuất gia và tại gia, luôn nhớ về và trân trọng tấm lòng của đàn tín.
(View: 23844)
Sự thờ phượng nói lên lòng kính ngưỡng đối với Tam Bảo. Phần hình thức tuy không tuyệt đối cần thiết nhưng là trợ duyên thù thắng cho sự hành trì Phật Pháp. Chỗ thanh tịnh rất tốt cho sự lễ bái và tập thiền. Sự tỉnh lặng rất cần thiết cho sự tập trung tinh thần. Trang nghiêm là điều cần lưu tâm trong sự thờ phượng
(View: 15747)
Đó không phải chỉ là một vấn đề ngữ nghĩa học. Theo cách dùng thông thường, từ mindfulness trong tiếng Anh có ý nghĩa đơn giản là biết, hay lưu ý. Sati có ý nghĩa phong phú hơn, vì thế những ai muốn thực hành thiền Phật giáo cần phải hiểu rõ từ này và những từ liên quan khác dựa trên những văn liệu có thẩm quyền nhất có thể có được. Nếu không, thiền Phật giáo sẽ nhanh chóng phát triển thành một loại tư tưởng “đây và bây giờ” hồ đồ, mà nơi đó, sự thâm sâu và phong phú của những truyền thống thiền Phật giáo siêu việt sẽ bị mai một.
(View: 29212)
Có một hành giả học giả (vì biết vị này có ngồi thiền và cũng có nghiên cứu Kinh điển) làm research cho biết rằng: Ở bản dịch Trung Bộ Kinh có tới 232 chữ chánh niệm, còn chữ sammāsati (23) sammāsatiyā (3) sammāsatiṃ (2) sammāsatissa (2), chỉ gặp có 30 lần. Cũng như đã gặp ở 1 đề tài gần đây về chữ satimā (được dịch là “chánh niệm”, thay vì CÓ NIỆM. khiến số lượng các chữ “chánh niệm” nhiều hơn đến 202 lần. Trong ngôn ngữ thường ngày hình như chữ “chánh niệm” được sử dụng cũng nhiều, ví dụ như vị Trụ Trì của Sư ngày xưa thường hay nhắc nhở rằng: “Mấy Sư phải có chánh niệm một chút.” Vậy nên hiểu NIỆM VÀ CHÁNH NIỆM như thế nào đây ?
(View: 97960)
Tỉnh thức là thực hiện hành động với đầy đủ ý thức, ngay cả trong lúc thở, đi, đứng, nằm, ngồi, v.v. Mục đích của sự chú tâm là kiểm soát và làm lắng dịu tâm. Đây là một trong những điểm trọng yếu của thiền tập trong Phật giáo, bao gồm việc tu tập tỉnh thức thân, khẩu và ý để hoàn toàn tỉnh thức về việc mình làm và cái mình muốn.
(View: 94746)
Phương pháp tu thiền vipassana là con đường dẫn đến giải thoát mọi ràng buộc khổ đau; nó đoạn trừ tham, sân, si là nguyên nhân của mọi khổ đau. Hành giả vipassana tu tập để dời đi, một cách tuần tự, căn nguyên của khổ và thoát ly sự đen tối của những căng thẳng từ trước để dẫn đến cuộc sống sung túc, lành mạnh và hạnh phúc
(View: 20605)
Là những hành giả thiền Quán, quý vị cần phải hiểu rõ ràng và chính xác sự khác biệt giữa Khái niệm và Thực tại, vì chỉ một trong hai điều này là đối tượng của thiền Minh sát (Vipassana).