(View: 54967)
Hấp hối có nghĩa là gần chết. Có nhiều từ đồng nghĩa cùng biểu đạt cho trạng thái này như đang lâm chung, thời gian cận tử, lúc sắp chết… Độ ở đây mang ý nghĩa chuyển hóa, giúp người vượt qua, giáo hóa cho người.
(View: 68539)
Để giúp cho đọc giả có thể nắm được sự khác biệt giữa thiền định (chỉ quán) và thiền Vipassana (tuệ quán), sư Phước Nhân, một hành giả của thiền viện Phước Sơn, nói rõ về thiền định, thiền Vipassana, sự khác biệt giữa hai phương pháp tập cũng như khái quát phương thức tu tập và kết quả mà mỗi phương thức tu tập đem lại.

-Phần Phụ lục-Lời cảm tạ

Friday, June 21, 201312:00 AM(View: 9533)


Thư Ngài Munindra gửi Hòa Thượng Kim Triệu

(Nhờ môn sinh Oren Sofer viết thay, vì lý do sức khỏe)

 

Từ: Acharya Anāgārika Munindra

Vipassanā International Academy - Dhamma Giri

INDIA

Đến: Đại đức Kim Triệu Khippapañño

Jetavana Vihara - Kỳ Viên Tự

U.S.A.

Ngày 17 tháng 11 năm 2001 

Kính bạch Đại đức,

Thay mặt Thầy Munindra từ Dhamma Giri, con xin viết thư này để hồi âm các bức thư ưu ái của Đại đức đã gởi cho Thầy. Sau hai tháng viếng thăm Bodh Gaya và Calcutta, Thầy cũng mới về đây được vài ngày nên việc phúc đáp có hơi chậm trễ.

 Thầy nói có đôi khi Thầy cũng muốn qua viếng Hoa kỳ để thăm lại các bạn hữu và học trò một lần chót trước khi từ giã cõi đời. Nhưng năm nay Thầy đã tám mươi bảy tuổi rồi, không còn sức chịu đựng một chuyến hành trình dài lâu như thế. Thầy bảo, “Tâm thì minh mẫn, bình an lắm, nhưng thân thì bị tuổi đời chồng chất lên nhiều nỗi khó khăn.” Thầy có thể đi đứng dễ dàng trên phi cơ hay trên mặt đất bằng phẳng, nhưng bước lên các bậc thang thì thật vất vả, phải có người đi kèm đỡ giùm. Ngoài ra tình hình thế giới hiện nay không mấy thuận lợi: khủng bố khắp nơi, biện pháp an ninh phi trường gia tăng triệt để… Do đó Thầy rất tiếc không thể đáp ứng nhã ý của Đại đức thỉnh mời Thầy sang thăm Hoa kỳ một lần cuối cùng và mong Đại đức thông cảm. “Bây giờ đang là chương chót của cuộc đời, là hoàng hôn của kiếp người, Tôi không thể trẻ lại nên không thể hứa được điều gì.”

 Thầy cũng xin được thứ lỗi đã chậm trễ thư từ vì bây giờ Thầy viết lách khó khăn hơn xưa, và thời giờ lại hiếm hoi. “Thân cử động chậm, đi đứng chậm, làm việc gì cũng chậm. Giáo pháp vẫn đến nhưng phải thật lâu mới viết được thành câu.” Thầy cũng không còn nói được nhiều như xưa nên phần lớn thời gian ở Dhamma Giri, Thầy sống trong thinh lặng. Dù Đại đức không nghe tin Thầy, Đại đức vẫn luôn ở trong tim Thầy. “Tâm tôi luôn tràn đầy niềm yêu thương vô bờ với mọi người, luôn ban trải lòng từ ái đến tất cả.”

 “Thêm một điều nữa là chừng nào tôi còn sống, tôi luôn luôn cảm tạ và tri ân tất cả đã quan tâm chăm lo cho tinh thần và sức khỏe của tôi.” Những tịnh tài gởi đúng lúc để hỗ trợ thuốc men và y phí đã giúp Thầy rất nhiều trong tuổi già.

 Một lần nữa Thầy nhờ con bày tỏ thay Thầy, “Tâm hướng tâm, tôi luôn ở bên các bạn, và các bạn luôn ở trong trái tim tôi. Chúc phúc các bạn. Xin chia sẻ mọi phước báu và trí tuệ đến tất cả. Nguyện cho các bạn luôn an vui, nhiều sức khỏe, thịnh vượng, sống lâu vì lợi ích của nhiều chúng sinh khác.”

Trong tâm đạo,

Anāgārika Munindra

Oren J. Sofer kính thư thay Ngài Thiền Sư Munindra

 


 

 

Lời Cảm tạ

 

 

Biết bao người đã nhiệt tâm cúng dường biết bao công đức để hình thành quyển sách Living This Life Fully này. Tôi vô cùng tri ân tất cả đã giúp tôi hóa giải một câu hỏi trở thành một giải đáp. Và tôi cũng chân thành tha thiết cáo lỗi nếu lỡ sai sót danh tánh của vị cộng tác viên nào.

 Khi Robert Pryor bằng lòng cộng tác với tôi trong dự án này, tôi rất may mắn được nhận lãnh thêm nhiều ân phước ngoài kho tàng quí giá của ông về những cuộc phỏng vấn đàm thoại với Ngài Munindra. Mối liên hệ thân thiết giữa Robert với Ngài Munindra, và kinh nghiệm sâu rộng của ông về Ấn độ mà ông đã thâu thập trong gần bốn thập niên sống tại đó, cộng thêm kiến thức về lịch sử của ông, tất cả đều rất cần thiết cho các cuộc thảo luận về những vấn đề này khi tôi đang nghiên cứu và viết sách. Tôi cảm kích cách ông phê bình về tất cả các bài đã nhờ ông đọc, các trả lời của ông cho những câu hỏi không ngừng của tôi, và sự tiếp đãi thật nồng hậu tại chùa Miến điện ở Bồ đề Đạo tràng. Ông đã hướng dẫn tôi dạo quanh thành phố để tôi có được ý niệm rõ ràng và hiểu thêm về cuộc sống của ngài Munindra nơi đó, cũng như đã giới thiệu tôi với nhiều người để phỏng vấn.

Nhờ ông tiếp tục liên lạc với các thầy dạy và học trò cũtrong chương trình Antioch của Ngài Munindra nên tôi lại được cơhội để phỏng vấn thêm nhiều người. Chính ông đã phỏng vấn riêng sáu người, và gởi những bức hình từ cuốn tập ảnh của Ngài Munindra, cùng dành nhiều thì giờ chia sẻ với tôi những mẩu chuyện về Ngài. Tôi vô cùng mang ơn lòng nhiệt thành của ông trong việc tán dương công đức của Ngài Munindra.

 Tương tự như Robert, Kamala Masters đã kiên trì giúp đỡ dự án này ngay từ khởi đầu. Bà đã khuyên tôi liên lạc với Robert khi ý tưởng về cuốn sách chỉ mới khởi sinh trong đầu tôi. Là chị em bạn đạo từ năm 1983, bà đã  tạo điều kiện cho tôi được gặp Ngài Munindra trong các chuyến Ngài thăm viếng bà ở Maui. Chính bà cũng đã đọc hầu hết các bản thảo tôi viết, giúp tôi giải quyết nhiều vấn đề nhờ mối liên lạc thân thiết của bà với Ngài, và kinh nghiệm dày dặn của bà trong việc dạy Phật Pháp. Mặc dù rất bận rộn giảng dạy trong các khóa thiền, bà vẫn luôn luôn dành riêng cho tôi nhiều giờ trao đổi qua điện thoại hoặc gặp mặt bà. Bà sẵn lòng đi với tôi sang Calcutta và Rangoon để thăm viếng các nơi Ngài thường lui tới lúc trước. Bà giới thiệu tôi với Daw Than Myint và Ma Vajirañānī. Qua hai vị nầy tôi đã nhận được một món quà thật bất ngờ là lòng ưu ái, các buổi đàm thoại, và những lời giải thích kỹ càng về tự truyện của Ngài Munindra.

 Gia đình của Ngài Munindra ở Calcutta đã tiếp đãi tôi hết sức nồng hậu. Họ ân cần tiếp đón một khách hoàn toàn xa lạ vào nhà, cung cấp chỗ trú ngụ, các bữa ăn ngon miệng (tôi đặc biệt mang ơn Anita Mondal), tình bạn đạo thân thiết, và các giờ hành thiền buổi sáng. Họ dành cho tôi nhiều cuộc phỏng vấn cũng như cho tôi xem các hộp đựng thư từ của Ngài. Em Ngài là Govinda đã dịch cho tôi vài lá thư này. Họ đưa tôi đến thăm Mahabodhi Society, nơi mà Ngài đã có thời gian cư ngụ. Gia đình cũng mời một số học trò và các bạn địa phương của Ngài đến để tôi có thể phỏng vấn họ. Tôi vô cùng cảm kích tất cả mọi người trong gia đình Barua, đặc biệt là Govinda, Subhra, Dhriti, Tridib, và Tapas Kumar.

 Tôi xin chân thành cảm tạ các vị hảo tâm trên toàn thế giới đã nhiệt tình trả lời những câu hỏi của tôi về kinh nghiệm cũng như cảm nghĩ của họ đối với Ngài, qua điện thoại, thư bưu điện, thư điện tử hoặc qua các cuộc gặp gỡ. Nếu không có sự đóng góp phong phú của quý vị, quyển sách này sẽ không sao thành hình được. Tôi rất tiếc đã không thể trình bày hết tất cả các cuộc phỏng vấn của mỗi vị. Tuy nhiên, tất cả mẩu chuyện đều vô cùng quan trọng vì chúng đã giúp tôi hiểu rõ về cá tính và ảnh hưởng của Ngài. Bản danh sách các cộng tác viên có nêu tên những vị mà tôi đã trích dẫn trong sách. Dưới đây là bản liệt kê danh sách tất cả các vị mà tôi đã phỏng vấn, lần lượt theo mẫu tự. Ngoài ra, nhiều vị liệt kê dưới đây còn cống hiến thêm những sự việc đáng ghi nhớ như hình ảnh, thư từ, trích dẫn từ nhật ký, và các lời ghi chép trong lớp học.

  Úc Châu: Martin Barua, Lynne Bousfield, Vivianne Bertelsen McClintock, Danny Taylor, Denise Till, Grahame White. Thụy Sĩ: Hòa Thượng Āyukusala Thera (Mirko Frýba), Marie-Claude Badonnem, Matthias Barth, Fred von Allmen. Thụy Điển: Uno Svedin. Đan Mạch: Uffe Damborg. Pháp Quốc: Heather Stoddard.

  Hy Lạp: Khanti Moraitis. Anh Quốc: Christina Feldman, Urgyen Sangharakshita, Stephen Strange, Christopher Titmuss. Ba Tây: Ricardo Sasaki. Ấn Độ: Dhriti Barua, Dipa Barua, Govinda Barua, Subhra Barua, Tapas Kumar Barua, Tridib Barua, Hòa Thượng Bodhipāla, Rajia Devi, Gita Kedia, Shyam Sunder Khaddaria, Hòa Thượng Satarakshita, Ram Sevak, Dwarko Sundrani, Manisha Talukbar, Saibal Talukbar, Shuma Talukbar. Tích Lan: Dhammaruwan Chandrasiri-Seneviratne. Miến Điện: Daw Than Myint, Ma Vajirañānī (Ellen Mooney). Thái Lan: Peter Skilling. Gia Nã Đại: Alan Clements, Michael Gelber, Raymond “Ray” Lipovsky, Luke Matthews, Zara Novikoff, Kristin Penn, George Poland, Derek Ridler. Hoa Kỳ: James Baraz, Jane Baraz, Robert Beatty, Mark Berger, David Berman, Arlene Bernstein, Hòa Thượng Bodhi, Roy Bonney, Sylvia Boorstein, David Brody, J. Kenneth Brower, Linda Brower, Ron Browning, Dale “Diinabandhu” Brozosky, John M. Burgess, Robert “Buzz” Bussewitz, Shivaya Cain, James Chadderdon, Paul Choi, Dan Clurman, Howard Cohn, Matthew Daniell, Vivan Darst, Ruth Denison, Sister Shinma Dhammadinna, Joseph “Joe” DiNardo, Tara Doyle, John D. Dunne, Jack Engler, Erica Falkenstein, Phelps Feeley, Patti Dye Fuller, Gregg C. Galbraith, David Gelles, Andrew Getz, Evelyn Goldstein, Joseph Goldstein, Daniel Goleman, Lucinda Green, Tyre Harris, Ed Hauben, Shaun Hogan, David Hopkins, Robert H. Hover, Ella Hurst, Xuan Huynh, David Johnson, Barry Lapping, Akasa Levi, Michael Liebenson Grady, Hòa Thượng Khippapañño, Erik Knud-Hensen, Jack Kornfield, Eric Kupers, Rebecca Kushins, Tom and Maggie Lesser, Carla R. Mancari, Jacqueline Schwartz Mandell, Peter Martin, Kamala Masters, Pat Masters, Michele McDonald, Margaret “Maggie” Ward McGervey, Mary Jo Meadow, Peter Meehan, John “Dhamma Dipo” Mills, Maria Monroe, Ginny Morgan, Rōshi Wendy Nakao, Wes Nisker, Philip Novak, Patrick Ophuls, John Orr, Gregory Pai, Robert Pryor, Ram Dass, Rameshwar Das, Bob Ray, Dixie Ray, Caitriona Reed, Sharda Rogell, Marcia Rose, Larry Rosenberg, Ajit Roy, Sharon Salzberg, Dale Samoker, Bill “Chaitanya” Samways, Sara Schedler, Max Schorr, Steven J. Schwartz, Robert H. Sharf, Ann Shawhan, Naima Shea, Karen Sirker, Ted Slovin, Huston Smith, Steven V. Smith, Jeanne Smithfield, Oren Sofer, Marilyn Stablein, Michael Stein, Suil, Robin Sunbeam, Lama Surya Das, Donald Sweetbaum, Jeffrey Tipp, John M. Travis, Bryan Tucker, Stella Valdiviez, Hòa Thượng Vimalaraṃsi (Marvel Logan), Wanda Weinberger, Giselle Wiederhielm, Linh mục James “Jim” Willems, Spirit Lynn Wiseman, David K. Wong, Sunny Wootton, Christine Yedica, Michael Zucker.

 Thay mặt Robert Pryor, tôi thành thật cám ơn Hòa Thượng Bodhipāla, Erica Falskentein, David Frank, S.N. Goenka, Itamar Sofer, Sara Chalfin, Dwarko Sundrani, Hòa Thượng Rastrapal, và Diane Wanicek.

 Ngoài ra còn biết bao nhiêu vị đã cộng tác trong nhiều phương cách quan yếu khác nhau. Tôi xin trân trọng cảm tạ các vị sau đây: Hòa Thượng Thanissaro (Than Geoff), Steve Armstrong, và Gil Fronsdal đã rất nồng nhiệt đóng góp những kiến thức sâu rộng về truyền thống Nguyên thủy và ngôn ngữ Pāli, cũng như duyệt đọc các bản thảo. David Johnson đã trao tôi vô số các băng âm, truyền hình, và DVD về Ngài Munindra mà ông đã thâu thập từ năm 1977. Các cuộc đàm thoại tại các khóa thiền và các trung tâm Phật học cũng như các buổi phỏng vấn với vị chủ bút của Yoga Journal đã giúp tôi chuyển đạt được những lời giáo huấn của Ngài Munindra trong chính ngôn ngữ của Ngài. Rishi Barua đã giúp tôi vượt qua biết bao sự khó khăn trong các việc giao thiệp liên lạc ở Ấn độ. Jack Engler đã đề nghị dùng chính lời nói của Ngài Munidra cho tựa sách đầu tiên, “Living the Life Fully”, và gởi đến tôi các bài viết của ông về Ngài Munindra. Jon Kabat-Zinn và Harvey Aronson đã chia sẻ tài liệu để giúp tôi hoàn thành bản dự án cho quyển sách. Michael Larsen và Toni Burbank đã đọc và phê bình bản dự án này cũng như giới thiệu các nhà xuất bản cho tôi. Amy Amita Schmidt đã hỗ trợ, khuyến khích trong việc chọn lọc một nhà xuất bản thích hợp. Tim Lighthiser đã giúp đỡ về mặt từ nguyên trong giờ chót.

 Tôi rất mang ơn Dave O’Neal của nhà xuất bản Shambhala. Ông đã nhận lãnh việc xuất bản quyển sách và sau đó chuyển giao lại cho Eden Steinberg. Tôi rất thích thú làm việc với Eden, tài biên soạn điêu luyện và thái độ dễ dãi của bà đã khiến công việc khó nhọc trở nên thú vị. Tôi cũng xin cám ơn bà Katie Keach đã ân cần giúp đỡ biên soạn lần cuối cùng, bà Meghan Howard đã cẩn trọng hiệu đính, và Gopa & Ted2 trong việc trình bày sách.

 Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là lời cám ơn từ tận đáy lòng dành riêng cho nguời chồng thương yêu và độ lượng của tôi, Larry Jacobs. Larry đã hết lòng hỗ trợ tôi đủ mọi phương diện để tôi có thể dốc hết tâm trí vào công trình này.

 

Send comment
Your Name
Your email address