(View: 51347)
Hấp hối có nghĩa là gần chết. Có nhiều từ đồng nghĩa cùng biểu đạt cho trạng thái này như đang lâm chung, thời gian cận tử, lúc sắp chết… Độ ở đây mang ý nghĩa chuyển hóa, giúp người vượt qua, giáo hóa cho người.
(View: 62755)
Để giúp cho đọc giả có thể nắm được sự khác biệt giữa thiền định (chỉ quán) và thiền Vipassana (tuệ quán), sư Phước Nhân, một hành giả của thiền viện Phước Sơn, nói rõ về thiền định, thiền Vipassana, sự khác biệt giữa hai phương pháp tập cũng như khái quát phương thức tu tập và kết quả mà mỗi phương thức tu tập đem lại.

4.31- Trên ngọn đồi đá trắng

Thursday, August 14, 201412:00 AM(View: 7319)

Một Cuộc Đời - Một Vầng Nhật Nguyệt

Tập-4

←Nghe: 4.34-Đóa hoa Vương quốc blank

4.31- Trên ngọn đồi đá trắng

Thấy nhân duyên ở Vesāli vậy là vừa đủ, đức Phật giáo giới thêm một số thời pháp nữa đến chư tỳ-khưu tăng và ni rồi lại lên đường. Lần này, ngài chỉ đi một mình cùng với thị giả Meghiya theo hướng Tây Bắc.

Nửa tháng sau, đến vùng Cālikā, có con sông Kimikālā xanh trong mát mẻ , ngôi làng Jantu tươi đẹp, trù phú, thạnh mậu - đức Phật dừng chân nghỉ ngơi tại một lùm cây im mát. Khuất xa sau vùng dân cư, đức Phật thấy một ngọn núi trắng nổi bật giữa nền trời trông vô cùng hùng vĩ và diễm lệ. Dân địa phương cho biết, là trên núi ấy - Cālikapabbata (1)- có rất nhiều hang động có thể trú mưa, trú nắng được.

Sáng ngày, sau khi trì bình khất thực, thấy dân tình thuần phác, chưa nhiễm quá nặng mê tín của đạo bà-la-môn - đức Phật quyết định an cư mùa mưa thứ mười ba ở đây.

Độ thực xong, đức Phật và thị giả Meghiya bộ hành lên núi. Hóa ra Cālikapabbata là một ngọn núi đá vôi màu trắng, không lẫn một màu sắc nào - xen kẽ là những gốc cổ thụ, lùm hoa, bụi cây điểm xuyết trông vô cùng ngoạn mục.

Đức Phật lựa tìm một hang động. Và tỳ-khưu Meghiya cũng có một hang động gần bên. “Hai thầy trò” bỏ y bát, lui cui quét tước, dọn dẹp nơi ăn chốn ở cho mình. Quả thật là thanh tịnh và yên ổn vô cùng, chẳng có ai quấy rầy.

Tỳ-khưu Meghiya không biết, chứ hằng đêm, đức Phật lại thuyết pháp cho thọ thần, địa thần, sơn thần, chư thiên xung quanh vùng đến đảnh lễ, thăm viếng và hỏi đạo.

Hôm kia, đứng trên đỉnh núi, đưa mắt nhìn bao quát bốn phương, một sự so sánh, tỷ giảo chợt đến với ngài. Quả thật, giáo pháp của ngài xuất hiện ở thế gian cũng tương tự như ngọn núi trắng này, hùng vĩ giữa nền trời, dường như không nhiễm bụi bặm trần tục. Còn hội chúng tu tập, với những đạo quả, thắng tuệ, tứ vô ngại giải, thần thông, giới định, thuyết pháp... điểm xuyết cũng tương tợ những cụm cây xanh, những lùm hoa kia!

Còn nữa, hằng đêm, đêm này sang đêm khác, chỉ cần một chút sáng tự trời cao - thì ngọn núi đá trắng chợt trông như một mảnh trăng hùng vĩ xua giạt bóng đêm - để lại một thứ ánh sáng dịu dàng, tĩnh lặng và thanh bình.

Đức Phật tự nghĩ:

“ - Hôm tại Verañja, ông Sāriputta đề nghị một bộ luật hoàn hảo hẵng là có lý. Muốn bảo vệ, gìn giữ giáo pháp nguyên tuyền, trinh trắng như ngọn núi này - thì phải cần có giới luật căn bản, cụ túc. Vậy, nhân mùa an cư này, có lẽ ít bận rộn bởi những hội chúng, ta sẽ để tâm nghiên cứu trước các bộ luật của chư Chánh Đẳng Giác quá khứ - để lúc nào thuận tiện, đúng thời, đúng duyên thì ta sẽ chế định”.

Thế rồi, ngày qua ngày, đức Phật lặng lẽ trì bình khất thực, khi một mình, khi cùng thị giả Meghiya. Đôi khi, đức Phật vào định suốt mấy ngày - thì những lúc ấy, tỳ-khưu Meghiya lủi thủi ôm bát đi một mình. Hôm kia, vui chân ông đến làng Jantu, thấy một vườn xoài cổ thụ xinh đẹp, ông thích thú quá, muốn độc cư ở đây.

Khi đức Phật xuất định, tỳ-khưu Meghiya quỳ bạch xin đến vườn xoài kia để tu tập. Cả hai lần đức Phật đều từ chối.

Quán căn duyên, ngài biết rõ, một kiếp quá khứ lâu xa, vị tỳ-khưu này đã từng làm một vị vua cai trị một vương quốc ở đây - và ngôi vườn kia là hậu thân vườn thượng uyển của ông ta. Khi thấy cảnh xưa cũ, dù đã hằng ngàn lần thay đổi, sinh diệt - nhưng luồng tâm vẫn bắt gặp được ký ức cũ nên sinh ra thỏa thích. Nếu tỳ-khưu này đến ở đấy - thì những hình ảnh xa xăm đâu đó về đời sống hưởng thụ ngũ dục sẽ tái hiện lại trong tâm tưởng và sẽ đánh gục ông ta tức thì!

Nhưng khi tỳ-khưu Meghiya khẩn thiết xin đến lần thứ ba - thì đức Phật lại gật đầu, nói rằng:

- Thôi được rồi! Ông cứ đi cho vừa lòng, cho thỏa nguyện. Như Lai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Và có lẽ sau khi chuyện xảy ra rồi - thì lời dạy bảo của Như Lai mới khỏi phải phí phạm như nước trượt lá sen, như nước đổ đầu vịt!

Quả đúng như thế. Tỳ-khưu Meghiya đến vườn xoài, lựa chọn chỗ ở thích hợp với mình xong - mỗi ngày, mỗi đêm tinh tấn hành thiền. Nhưng ông ta hoàn toàn bất lực không tìm thấy một chút thanh bình, một chút an tịnh nào. Cái tâm lúc nào cũng bồn chồn, xao xuyến - rồi đủ mọi tham dục khởi lên. Không biết từ đâu trong sương khói chập chờn, những hình ảnh mỹ nữ hiện ra, nõn nường, lồ lộ da thịt, thơm ngát phấn hương... khêu gợi đam mê và dục tình. Rồi nào là những thức ăn mỹ vị... rồi tiệc tùng, đàn ca, xướng hát vang vang trong tâm tưởng, hoặc như từ hư không vọng xuống... Niềm khao khát hưởng thụ đời sống ngũ trần ào ạt tấn công làm cho vị tỳ-khưu này không chịu nổi. Ông toát mồ hôi, cắn răng đến chảy máu hầu chiến đấu với nó. Lát sau, trầm tĩnh lại, Meghiya tự nghĩ: “Thật là kinh khiếp, thật là kỳ lạ. Ở gần bên đức Đạo Sư ta luôn cảm giác an ổn, lúc nào những dục tư duy, dục tầm (2) như thế này khởi lên - chúng nhanh chóng biến mất. Còn bây giờ, khi ta ở một mình, nó đánh ta không còn manh giáp, không còn một chỗ nào để thối lui!”

Một bữa khác, nhẹ nhàng xả thiền, để tâm hư tĩnh, lắng nghe hơi thở một hồi, Meghiya chậm rãi bách bộ dưới những lùm cây thưa với những vệt nắng loang lổ. Buổi chiều mát mẻ, yên tịnh, chàng đã lấy lại được sự thăng bằng tâm hồn. Bất chợt, một đàn chim từ đâu đó rào rào xuất hiện, chúng đập cánh, nô giỡn, ca hót ỏm tỏi, tạp loạn... làm cho chàng rất khó chịu... Rồi phân chim rơi xuống, lông lá bay loạn xạ làm chàng bực bội hơn. Chưa thôi, hôm sau lại một đàn khỉ tìm đến nữa, chúng chí chóe níu cành, chuyền nhánh, vặt trái làm náo động cả khu vườn. Thế là tâm chàng như có ngọn lửa thiêu đốt, lại rơi vào sân tư duy, sân tầm (3) không cưỡng được. Chàng không còn làm chủ được mình. Những bước đi chợt hấp tấp, bồn chồn, lại vấp ngã bởi gốc cây, cục đá...

Sau đó nữa, cơn nóng giận càng tăng trưởng làm cho Meghiya sinh ra thù ghét chúng, chàng giận dữ, cứ muốn la muốn hét, muốn đập, muốn đánh đuổi, muốn chưởi mắng lũ chim, lũ khỉ. Và khi mà hại tư duy, hại tầm (4) khởi lên dữ dội, không còn làm chủ được, chàng đã lấy đá quăng, lấy cành cây đập đuổi đàn chìm, đàn khỉ. Một vài ba con đâu đó đã bị thương tích... nên chúng hoảng sợ bỏ đi cả.

Ngồi thở với hơi thở dồn dập, tim đập mạnh, máu dồn căng lên óc... chàng mệt lả.

- Thôi rồi, đúng rồi! Đức Phật đã từng giáo giới ở đâu đó - rằng là, khi mà dục tầm, sân tầm, hại tầm khởi lên... chúng sẽ thiêu rụi tất thảy mọi thiện pháp, làm cho tàn rụi, héo úa mọi công đức tu tập có được!

Ôi! Phải trở về vập đầu nơi bàn chân bụi của đức Đạo Sư thôi - ngài sẽ chỉ dạy cho ta cách vượt qua chúng. Khi nào mà chưa có biện pháp đối trị, khi nào mà nội lực tâm linh, sự hành trì tu tập của ta chưa vững vàng thì ta không còn dám sống một mình nữa đâu.

Vội vã lúc đến cũng như vội vã lúc đi, Meghiya mau chóng xếp y, mang bát, bộ hành lên lại núi đá Cālikā, đảnh lễ đức Thế Tôn, trình bày lại mọi sự...

 

4.32- Những Pháp cần có của một Hành giả 

Cái gì xẩy ra trong tâm tư vị tỳ-khưu này, đức Phật đã thấy rõ, biết rõ - nên ngài đã dạy như sau:

- Này Meghiya! Trước khi giảng giải về những pháp đối trị dục tầm, sân tầm và hại tầm trong trường hợp mà ông vừa mắc phải, Như Lai sẽ nói qua về những điều kiện cần thiết cho một vị tỳ-khưu lên đường, cho một hành giả tu tập, sống một mình, nơi này và nơi khác.

Thật ra, không phải ai sống một mình cũng được đâu. Hành giả sống một mình nơi thanh vắng, nơi khoảng trống, nơi rừng sâu, nơi hang động, nơi nghĩa địa, dưới cội cây, nơi những chốn tịch liêu không người - không có nghĩa là không cần bạn đạo, không cần bạn lành, không cần bậc thiện hữu trí thức! Mà chính nó là điểm quan trọng nhất đấy! Phải cần một điểm tựa tinh thần. Phải cần có bậc thiện trí để lắng nghe, trao đổi, học hỏi. Phải cần có người gần gũi để giúp đỡ nhau khi ốm bệnh, lúc rủi ro, tai nạn và cả khi gặp những vấn nạn vô phương giải quyết.

Vậy, điều kiện thứ nhất của một hành giả là phải có bạn lành (4), tức là bạn đồng tu có đạo hạnh, có trí tuệ để nương tựa, ông phải ghi nhớ điều này!

- Dạ thưa vâng!

- Điều kiện thứ hai - là hành giả phải có giới luật (5) đầy đủ ở trong tâm cũng như sự tướng biểu hiện ra ngoài của thân khẩu - tối thiểu là phải biết gìn giữ sáu cửa vào ra, đi đứng nằm ngồi phải có chánh niệm và sống đời nuôi mạng chơn chánh. Bởi giới chính là hàng rào ngăn ngừa ác pháp, là áo giáp có công năng chở che những mũi tên độc hại, ác uế từ thế giới ngũ trần - cho những ai muốn sống đời độc cư, thanh tịnh. Phải ghi nhớ thêm điều này nữa, ông có biết thế không?

- Dạ thưa vâng!

- Điều kiện thứ ba là phải biết tạo cơ hội để học hỏi về giáo pháp, thính cầu pháp (6). Có thể đi tìm kiếm, đảnh lễ các bậc tôn túc, các vị thánh giả. Có thể thỉnh thoảng trở về với Tăng đoàn để sống trong không khí tu tập chung, nghe những thời pháp của các vị. Cũng có thể lắng nghe từng bước chân, từng hơi thở, mọi động niệm, dấy khởi trong tương giao căn, trần, thức: Pháp sẽ phát sanh ở đấy!

- Dạ thưa vâng!

- Điều kiện thứ tư là tinh tấn, nỗ lực (7) không ngừng. Phải chuyên cần quán niệm, quán tưởng, quán chiếu trong mọi lúc, mọi khi. Nói tinh tấn như thế không có nghĩa là cố gắng kịch liệt, quá sức lại thành ra hỏng, nguy hiểm! Ông có hiểu cái tinh tấn chừng mực, không giùn mà cũng không căng như sợi dây đàn không, này Meghiya?

- Thưa, đệ tử hiểu.

- Dể duôi, biếng nhác, giải đãi là một cực đoan - mà cố gắng quá sức, nhiệt tình quá mức lại là một cực đoan khác - ông hiểu chứ?

- Dạ thưa vâng!

- Điều kiện thứ năm là phải trang bị cho mình một trí tuệ đầy đủ - nhất là loại trí thấy rõ sự sanh, sự diệt (8) của những duyên khởi tác động lên thân tâm; trí khéo léo quán sát về nhân, về duyên, về quả; trí khéo léo hướng tâm đúng (9) đến mọi sự, mọi vật, mọi pháp - ông có lãnh hội được hết không, này Meghiya?

- Đệ tử sẽ cố gắng!

- Ngoài năm điều kiện kia, vị hành giả cũng còn cần phải quán tưởng thân bất tịnh (10) để đối trị với tham muốn, với ái dục; phải tu tập tâm từ (11) phát triển năng lượng mát mẻ để rưới tắt sân hận; phải tu tập hơi thở vào ra (12) một cách chuyên niệm, khắng khít, miên mật để tà tư duy (13) không có cơ hội phát khởi; hằng quán vô thường, sanh diệt của năm uẩn để diệt trừ ngã mạn. Và chính nhờ quán vô thường, vô ngã này mà hành giả có thể đạt chánh trí, giác ngộ và giải thoát ngay trong kiếp sống hiện tại này.

Giảng đến ngang đây, đức Phật thấy tỳ-khưu Meghiya rất chăm chú lắng nghe, ngài đọc thêm bốn câu kệ ngôn, với ý rằng:

- Nếu tâm ai chạy theo tà tư duy thô thiển, hèn hạ, thấp thỏi hay tốt đẹp, tế nhị, vi tế - thì người ấy luôn luôn bị dao động, thất niệm, phóng dật. Chìu theo tà tư duy thì tâm kẻ ngu ấy không bao giờ an trụ, cứ mải miết, rong ruổi chạy theo đối tượng này sang đối tượng khác không ngưng nghỉ (14).

 

Bằng nếu không chạy theo tà tư duy, có chánh niệm, biết thu thúc, gìn giữ sáu cửa vào ra với sự tinh tấn thì có thể ngăn chặn được nó một cách dễ dàng - này Meghiya!

Sau đó, đức Phật còn đưa thêm ví dụ người thợ làm tên, cho dù cây có gai, có mắt hoặc cong queo, người ấy có thể vót, tỉa, lấy lửa uốn làm cho mũi tên trở nên ngay thẳng được. Cũng vậy, cái tâm của chúng sanh với những khúc, những mắt, với gai nè chằng chịt - phải biết cắt, biết tỉa, biết vót cho nó trơn tru - sau đó, dùng giới, dùng trí mà uốn nắn mới thành hữu dụng được.

Ví như con cá sống dưới nước, nếu bắt bỏ, ném lên bờ thì nó sẽ vùng vẫy, giãy giụa - cũng vậy, khi tu tập minh sát, nắm được cái tâm, bắt được cái tâm ra khỏi ngũ trần thì nó cũng vùng vẫy giãy giụa y như thế. Vậy nên - hành giả phải quyết tâm, phải kiên trì - mới làm yên lắng ba tà tư duy ấy được.

Cuối buổi giảng, tỳ-khưu Meghiya có được pháp nhãn, bước được vào dòng chảy giải thoát. Ông ta sung sướng gục khóc, quỳ ôm chân bụi đức Đạo Sư không thốt được nên lời.

 

4.33- Màu vàng y trên núi đá trắng

Đức Phật sống nơi này yên tĩnh hơn một tháng thì các bà-la-môn gia chủ, đạo sĩ hành cước tìm đến vấn đạo. Rồi dân chúng trong vùng cũng tò mò thăm viếng đức Đạo Sư.

Và quả thật vậy, không nói thì ai cũng hiểu; với dáng dấp tôn nghiêm, sắc diện như thần mặt trời, thần mặt trăng cộng lại; đi đứng uy nghi, nhàn thoát, tự tại lúc đi trì bình khất thực nơi này và nơi khác - đức Phật đã thu hút sự tín mộ của nhiều giai cấp. Sự hiện thân của một đức Chánh Đẳng Giác cũng đã được giới bà-la-môn bàn tán - và ngài lại đến ở nơi vùng hẻo lánh này là một vinh hạnh cho cư dân trong vùng.

Tuy nhiên, tại nơi này chẳng có biến cố gì trọng đại, ngài chỉ tốn nhiều thì giờ hơn để thuyết giảng giáo pháp thanh tịnh và thoát khổ mà thôi. Và khi thấy không có chỗ trú nắng, trú mưa cho nhiều người, những vị có tín tâm tự nguyện vận động xây dựng cốc liêu bằng tranh tre nứa lá.

Tháng sau nữa thì số người thọ trì quy giới đã lên đến hằng trăm người. Và người học tu cũng lên đến mấy chục vị. Không mấy chốc, gần đến hết mùa mưa, nơi này đã biến thành một tịnh xá với hằng chục cốc liêu rải rác quanh sườn núi.

Mãn mùa an cư, đức Phật phải ở lại thêm một thời gian nữa để giáo hóa học chúng. Tuy nhiên, tôn giả Moggallāna, một số chư vị trưởng lão như Bhaddiya, Kāḷudāyi... đã xuất hiện kịp thời với thêm cả hằng trăm vị tỳ-khưu nữa - làm cho ngọn núi đá vôi trắng này chợt trở nên vàng rực.

Thêm một tháng nữa, chư vị trưởng lão tăng ni quanh các quốc độ lân cận hay tin lại dẫn đệ tử của họ tìm đến đảnh lễ đức Phật vấn an sức khỏe của ngài - thì vùng Cālikā này đã trở nên quá tải. Bây giờ, các vị bà-la-môn hữu danh, những gia chủ và cư dân trong vùng mới thấy rõ uy lực giáo hội của đức Phật - nơi quy tụ biết bao nhiêu bậc anh tài kiệt xuất cùng với số lượng tăng ni đông đảo chưa từng thấy.

Đức Phật phải yêu cầu tôn giả Kāḷudāyi và Bhaddiya ở lại chăm sóc tu viện mới rồi ngài lại dẫn hội chúng lên đường. Còn Mahā Moggallāna thì tùy nghi - vì đức Phật biết ông ta hiện có năm trăm tỳ-khưu cần phải giáo hóa và đệ tử thì có trời, rồng, dạ xoa ... đủ loại.

 

4.34- Đóa hoa Vương quốc

Mới rời núi đá vôi một hôm - thì tôn giả Sāriputta xuất hiện cùng một số đông trưởng lão cùng với đệ tử của họ nữa. Khi du hành đến vùng Desaka thì số lượng chư tỳ-khưu đi theo đã hơn một ngàn vị. Do nhờ có tôn giả Sāriputta và các vị trưởng lão kinh nghiệm nên việc trì bình khất thực, nơi dừng chân ban ngày, ban đêm đều được tính toán kỹ càng và chu đáo. 

Hôm ấy, tại một rừng cây mát mẻ, trước một hội chúng đông đúc, thấy đa phần là tỳ-khưu trẻ, đức Thế Tôn đã nói như sau, và đã được các vị đa văn thuật lại:

- Này chư tỳ-khưu! Ở đây là thị trấn Desaka, được nổi danh là trù phú, đẹp đẽ. Nơi các đường chợ, người ta chưng bày hàng hóa tươi mắt, khêu gợi lòng tham. Sau các cửa sổ có rèm lụa và nơi mặt tiền của ngôi nhà - có những cô con gái mỹ miều, duyên dáng được trang điểm và phục sức tế nhị bằng châu báu, hương thơm và tràng hoa. Các trò du hí với trống đánh, với kèn thổi, với vũ điệu, với nhạc ca du dương trỗi lên đây đó rất là mê ly, say đắm, quyến dụ lòng người.

Này chư tỳ-khưu! Thật là dễ dàng thay cho các vị khi đi trì bình khất thực nơi thị tứ giàu có và hào phóng này - luôn luôn có đủ cơm bánh, mật, sữa cùng thức ăn vật cứng, vật mềm khác để nuôi mạng. Mà cũng thật là khó khăn cho các vị khi phải giữ gìn sáu cửa, trang nghiêm thân, trang nghiêm giới, sống đời biết đủ, tỉnh giác, chánh niệm mà không có rối loạn tâm, không có chao đảo trí...

Nhập đề như thế xong, đức Phật đi vào chánh đề với giọng phạm âm như sấm gióng giữa trời mưa:

- Này chư tỳ-khưu! Hãy nghe đây! Đứng trên đỉnh cao ngàn tầm cây thốt nốt còn dễ dàng hơn là thấy sắc đẹp của mỹ nhân mà không nhìn! Đứng trên bờ hố than lửa hừng rừng rực còn dễ chịu hơn là trước âm thanh quyến rũ của cô ca nữ mà không nghe! Suy ra, mùi hương, vị ngon, xúc chạm êm ái đều như thế cả.

Nầy chư tỳ-khưu! Các ông nghĩ như thế nào - Ví như có một cô gái duyên dáng, mỹ lệ cực kỳ, với mảnh xiêm lụa mỏng như mây trời, được phô bày trọn vẹn thân vóc ngọc ngà với các đường cong uốn lượn gợi cảm - cô gái ấy đang múa một khúc điệu lả lơi gợi tình, ca một giọng ca dụ mị như bồ câu gọi bạn, như bướm cợt hoa... Có một gã thanh niên trẻ trung, khí huyết dư tràn, hai tay bưng hai bát dầu đầy có ngọn - buộc phải đi qua chỗ cô gái ấy. Tên đao phủ của vua cầm đao đi sau, nói với thanh niên rằng: “Này chàng trai! Không được nhắm mắt, không được bịt tai, hãy đi qua chỗ mỹ nhân! Chỗ nào ngươi làm rơi một giọt dầu, ngay tại chỗ ấy, cái đầu của ngươi sẽ lìa khỏi cổ. Nếu ngươi đi qua hết chỗ mỹ nhân mà không có một giọt dầu nào bị bắn ra ngoài, ngươi sẽ được đức vua tặng thưởng một ngàn đồng tiền vàng”.

Này chư tỳ-khưu! Các ông nghĩ thế nào - một ngàn đồng tiền vàng dễ bỏ vào túi hay là cái đầu kia dễ lìa khỏi cổ?

Được chư tăng như đồng loạt trả lời:

- Khó thay là một ngàn đống tiền vàng bỏ túi và dễ thay là cái đầu phải lìa khỏi cổ!

Đức Phật mỉm cười:

- Sai rồi! Rồi ngài tiếp - Một ngàn đồng tiền vàng kia rất dễ bỏ túi! Tại sao vậy? Vì người thanh niên ấy sợ cây đao, sợ đầu lìa khỏi cổ - nên y sẽ dễ dàng đi qua chỗ mỹ nhân và không hề làm rơi một giọt dầu nào!

Để cho hội chúng lãnh hội sự thật đã được khéo giảng, khéo thuyết, khéo thí dụ - đức Đạo Sư lại tiếp:

- Nầy chư tỳ-khưu! Bậc hiền trí thuở xưa, không có thanh bảo đao hăm dọa đi sau; và sự thử thách, cám dỗ cũng không phải chỉ thời gian một hồi trống - mà suốt bảy ngày bảy đêm trên đường trường, bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào. Sự thử thách, cám dỗ, cạm bẫy không chỉ một mỹ nhân mà thật sự là thiên sắc, thiên âm, thiên hương, thiên vị, thiên xúc. Thế mà bậc hiền trí vẫn không phóng dật, an trú niệm, cột giữ sáu cửa suốt mấy chục do-tuần, đi đến nơi đến chốn, không những chỉ đạt một ngàn đồng tiền vàng mà đạt được cả quốc độ.

Nói thế xong, đức Phật im lặng.

Sau khi hội chúng thưa thỉnh ba lần, đức Đạo Sư đã vén bức màn quá khứ, kể lại một chuyện xưa - sau đó được các vị giáo thọ thuật lại có chút văn chương, chữ nghĩa như sau:

- Thuở xưa có một vị vua cai trị một quốc độ hùng mạnh, ông ta có cả thảy một trăm vị hoàng tử, và đứa con út - một chàng trai anh tuấn - là nhân vật chính trong câu chuyện này.

Đức vua có nhiều từ tâm và giàu lòng bố thí, có đức tin thiêng liêng với các đạo sĩ. Hằng ngày trong cung điện bao giờ cũng có chư vị Độc Giác Phật từ Himalaya đến thọ thực. Nhà vua cúng dường đặt bát không thối thất, không mệt mỏi.

Hoàng tử út - hoan hỷ việc làm của vua cha nên thành tâm cung kính phục vụ chư Phật Độc Giác rất là chu đáo và tận tụy.

Hôm kia, hoàng tử út suy nghĩ:

“- Ta có những chín mươi chín người anh nhưng chỉ có một vương quốc. Bây giờ, khi vua cha còn sống, với tình thương đồng đều, ai cũng có chút ít của cải, tài sản. Nhưng chẳng biết khi vua cha trăm tuổi rồi, tình trạng các hoàng tử sẽ ra sao? Chốn vương vị, quyền lực và lợi danh dễ làm đen tối lòng người, theo đó, thây sẽ phơi, máu sẽ đổ. Nếu biết là chỗ nguy hiểm thì ta nên tìm cách tránh xa trước. Chư vị đại đạo sĩ này, có sự tu chứng bậc cao, có sự thấy biết sâu xa - có lẽ sẽ giúp cho ta những lời dạy bảo khôn ngoan và sáng suốt nhất”.

Ngày hôm sau, khi chư Phật Độc Giác đến, hoàng tử út đem lại bình nước trong rửa chân cho các vị ấy, lau cho khô với khăn sạch, đặt bát dâng cúng những món ăn thượng vị. Khi các ngài dùng xong, hoàng tử út dâng nước lọc, tăm xỉa răng và khăn trắng lau tay. Lúc các ngài đã ôm bát, hoàng tử út đến đảnh lễ, ngồi xuống một bên để xin được hầu chuyện.

- Đệ tử ở chỗ cõi đời với mắt thịt tối tăm và đầy bụi, thật không biết chỗ nào là trong, chỗ nào là đục, chỗ nào là tốt, chỗ nào là xấu; không biết nơi nào nên ở, nơi nào nên đi; những việc nên làm và những việc không nên làm! Tương lai thật là mịt mù, bấp bênh và vô định vậy. Vậy xin các ngài chỉ giáo, định hướng cho để đem đến an vui, lợi lạc lâu dài về sau!

Vị trưởng lão chăm chú nhìn hoàng tử trẻ tuổi một hồi rồi khẽ nói:

- Hoàng tử có biết cái mênh mông và rộng lớn của hư không hoặc biển cả chăng?

- Thưa, có thể tưởng tượng được.

- Những tư duy, những vấn đề tiềm tàng trong câu hỏi ấy cũng thật là mênh mông và rộng lớn như thế. Đấy là những thao thức, những trăn trở, những tìm kiếm từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn đời của những bậc hiền triết, những vị ẩn giả cô độc giữa rừng sâu, non cao, động vắng từ ngàn xưa cho đến ngàn sau. Tuy nhiên, ở đây, hoàng tử đặt vấn đề có giới hạn hay không có giới hạn?

Hoàng tử út chợt đâm ra ngỡ ngàng, bối rối, lúng túng một hồi mới đáp được:

- Thưa, tâm trí của đệ tử chưa đủ kích thước bề rộng cũng như bề sâu để đặt những vấn đề rộng lớn, mênh mông vô giới hạn. Ở đây, thật nhỏ bé và tầm thường là tương lai và sự an ổn của một đời người. Tương lai và sự an ổn của một đời người cũng phải được giới hạn lại nơi những nhu cầu bình thường và giản dị nhất. Đệ tử không có những ước vọng cao xa. Đệ tử sẽ có ví dụ. Ví như một cái hạt hoa nằm trong trái chín, đến thời kỳ, cái vỏ sẽ nứt và những cái hạt sẽ bung ra. Cái hạt bung ra ấy cần phải nương gá vào một chỗ nào có đủ đất, nước, không khí, ánh sáng, không sâu bọ để nó có đủ khả năng nẩy mầm, sinh trưởng, tồn tại, lớn lên để cho sắc, cho hương. Đệ tử chỉ muốn như là cái hạt hoa ấy - là vấn đề giới hạn trong câu hỏi kia vậy.

Vị trưởng lão gật gật đầu, mỉm cười:

- Thật đáng mến thay là ước mơ khiêm tốn của một vị hoàng tử. Vì tâm đức ấy nên ta không ngần ngại tiết lộ cho hoàng tử hay: Cái hạt hoa ấy sẽ không rơi trúng vào chỗ có đất, nước, ánh sáng và không khí đủ điều kiện thuận lợi đâu!

- Phải rồi! Hoàng tử út tuy buồn trong lòng nhưng bình tĩnh nói - Dường như đấy là sự thật mà đệ tử tiên liệu được. Giả dụ như vua cha yêu mến đệ tử, cho kế thế ngai vàng, đệ tử cũng cương quyết không nhận - vì đó là mầm mống tranh chấp, cốt nhục tương tàn. Đệ tử chỉ cần một chút ít của cải và tài sản, chung sống với anh em một cách thuận hòa và yên ấm mà thôi!

Vị trưởng lão nói nhỏ lại:

- Một chút ít ấy cũng không có đâu. Cái hạt hoa kia mà rơi xuống nơi này thì nó sẽ không tồn tại, huống nữa là cho sắc, cho hương!

Ngại rằng xác định sự thật ấy vị hoàng tử nhân hậu này sẽ đau khổ - bậc trưởng lão nói thêm:

- Tuy thế, nó sẽ có một nơi khác. Sức bung của hạt hoa ấy phải thật xa, phải thật mạnh mới gặp được môi trường thuận lợi. Chính ở đấy sắc hương sau này mới rực rỡ và nồng đượm.

Hoàng tử như vin được chiếc phao giữa lòng biển lớn:

- Xin ngài bi mẫn chỉ dạy?

- Về phương Bắc, cách đây rất xa - vị trưởng lão chậm rãi nói - tại nước Gandhāra, kinh thành Takkasilā chính là môi trường rất thuận lợi đang chờ đợi sẵn. Đấy là điều bí nhiệm, ta biết rất rõ nhưng không thể tiết lộ nhiều chi tiết hơn. Là nếu hoàng tử đi từ đây lên đó được trong vòng bảy ngày, hoàng tử sẽ đạt được vương quốc ấy. Tuy nhiên lộ trình thật là vô cùng gian nan hiểm trở, không biết hoàng tử có chịu khó, có kham nhẫn được không?

- Đệ tử sẽ cố gắng!

- Có hai con đường để đi đến vương quốc ấy. Một con đường đi vòng quanh các khu rừng, ít nguy hiểm nhưng xa đến ba mươi do-tuần, với thời gian bảy ngày thì chẳng thể chạy cho kịp. Con đường thứ hai đi băng qua khu rừng, chỉ có mười lăm, mười sáu do-tuần, đi suốt bảy ngày bảy đêm thì có thể đến kịp. Nhưng lộ trình này cheo leo hiểm trở, vừa độc trùng, thú dữ, lại vừa bị sự thử thách, cám dỗ của phi nhơn và ma quân. Hoàng tử liệu sức mình như thế nào? Ý chí và nghị lực như thế nào? Quả thật nó thiên nan, vạn nan đấy! Đến được vương quốc ấy vừa kịp thời gian bảy ngày, vừa bình an vô sự - nó từa tựa như bằng hai tay mà bơi qua hư không vậy! Chưa có ai làm được! Phải bỏ mạng dọc đường thôi! Hoàng tử hãy suy nghĩ cho cẩn thận, cho chu đáo!

Hoàng tử gật đầu mạnh mẽ:

- Cái thế của đệ tử là phải gieo trồng hạt hoa nơi vương quốc ấy! Đệ tử sẽ làm được!

- Vậy hãy lên đường ngay, tức thì! Vị trưởng lão ân cần nói thêm - Điều phải ghi nhớ nằm lòng, đinh ninh như nhất, là dầu gặp hoàn cảnh nào cũng phải an trú niệm, giữ gìn sáu cửa, con tâm trong sáng như trăng rằm. Còn phải chuẩn bị tinh thần để nhịn đói, nhịn khát nữa. Một chút giải đãi, biếng nhác, thiếu tinh cần, thiếu tỉnh thức là phải lìa bỏ mạng sống ngay!

- Đệ tử xin ghi nhớ!

- Bây giờ ta sẽ cho hoàng tử vật hộ thân. Nhưng nên nhớ, vật hộ thân này chỉ bảo vệ được những con người có chánh tâm, chánh khí!

Nói thế xong, vị trưởng lão nhắm mắt, niệm chú rồi trao cho hoàng tử một lá bùa bằng cát và một sợi chỉ - lại còn dặn:

- Bình thường, vật để trên ngực, giữ chánh niệm thì được vô sự. Lúc cảm thấy nguy hiểm nhất, lấy bùa này, lấy chỉ này cột lên búi tóc thì chư thiên giúp đỡ, hộ trì; các loài phi nhơn như ma quân, dạ-xoa, a-tu-la không dám xâm hại.

Trao bùa và giáo giới như vậy xong, tất cả các vị Phật Độc Giác biến mất tại chỗ, về Himalaya.

Hoàng tử út đến từ giã vương phụ và mẫu hậu, từ giã những người anh, kẻ thân tín, bằng hữu, nói rõ ý định ra đi của mình, dẫu ai khuyên bảo, can ngăn gì cũng không lay chuyển chàng được.

Có năm tay chân thuộc hạ xin đi theo, nhưng hoàng tử lắc đầu, điềm đạm bảo:

- Việc của ta nên ta phải tự giải quyết. Các ngươi không nên đi theo, nguy hiểm lắm đó!

Do họ cứ khăng khăng nguyền sống chết có nhau nên hoàng tử đành phải ưng thuận.

Họ khoác hành tranh lên đường khi trời đất còn mờ sương. Họ tiết giảm tối đa thời gian nghỉ ngơi và ăn uống. Ngày thứ nhất, họ đến địa đầu khu rừng hướng chênh Bắc được an toàn. Nghĩ đến lời dạy bảo của vị trưởng lão Độc Giác Phật, hoàng tử dặn dò thuộc hạ:

- Núi rừng tươi đẹp, cây xanh mát mẻ, chúng ta sẽ bộ hành thoải mái, không mất sức. Nhưng cũng bắt đầu từ đây, mọi nguy hiểm đang chờ đón chúng ta. Hãy cảnh giác và an trú niệm.

Vượt qua cụm rừng đầu tiên thì bóng chiều đã ngả, lùm cây xòe tán, sương mờ huyền ảo - một con suối sực nức mùi hương hiện ra trước tầm mắt mọi người như một phép lạ. Rồi kìa! Một xóm nhỏ với lầu gác, với những căn nhà nhỏ xinh xinh, rực rỡ đèn treo, hoa kết nằm bình yên trên nền đá trắng, lác đác chỗ này chỗ kia là những cụm hoa vàng, hoa da cam, hoa màu tím nhạt... Cả đoàn bâng khuâng dừng lại. Họ đăm đăm nhìn con đường mòn chạy viền bãi cỏ xanh như dải lụa bạch dẫn đến chiếc cầu lơ thơ liễu rủ. Từ đâu đó, một cô gái đẹp như tiên nga, yểu điệu dáng hồng, tay vin cành liễu, nụ cười mê hồn, cất giọng oanh vàng thỏ thẻ:

- Hoa nở chóng tàn, tuổi xuân nào có mấy khắc, sao các chàng không dừng chân ngơi nghỉ?

Rồi sau đó là một đoàn tiên nữ vén mây bước ra, xiêm áo mỏng mảnh như màn sương, dáng ngà uyển chuyển, vóc ngọc lồ lộ, ấp úng thẹn thùa, nụ cười gợi tình, mắt môi lúng liếng...

Năm người tùy tùng tim đập bồi hồi, đôi chân sụm xuống. Hoàng tử một thoáng rung động nhưng an trú niệm lại ngay, mắt nhìn thẳng, chân bước đều, hùng dũng như viên hổ tướng. Năm thuộc hạ thấy thế như được hồi sinh, dẫu uể oải, tiếc rẻ nhưng cũng phải cố gắng bước theo.

Bỗng, một người đi chậm lại. Hoàng tử hỏi:

- Sao ngươi không theo kịp các bạn?

- Thưa, chân tôi bị đau! Chỉ cần ngồi nghỉ nơi xóm này một khắc, lấy lại sức, tôi sẽ lên đường ngay!

Hoàng tử nhăn mày:

- Chúng là phi nhơn, ma nữ hoặc dạ-xoa nữ đấy! Chúng lấy sắc đẹp quyến dụ ngươi, rồi qua một đêm, ngươi chỉ còn là một đống xương trắng hếu! Hãy liệu chừng!

Người kia cười lạt mà rằng:

- Dẫu sự việc có là như vậy, tôi cũng không thể đi được nữa, thưa hoàng tử!

Nhìn thần sắc và nghe cách nói của người kia, hoàng tử biết là khó lòng khuyên can được, chàng bèn thở dài rồi than:

“- Ôi! Sắc đẹp! Hỡi thiên sắc ma quân! Ngươi đã đánh thắng người bạn của ta ngay nơi vương quốc khả ái và mê hoặc này! Ngươi chính là mũi tên hoa có tẩm độc - sẽ bắn thẳng vào trái tim bạn ta, không nhức đau, chỉ là vết tử thương dịu dàng, êm ái! Nhưng ta sẽ vĩnh viễn đánh bại ngươi, bằng an trú niệm, bằng sự tỉnh thức miên tục, trường kỳ!”

Rồi hoàng tử xót xa mà lên đường với bốn người còn lại.

Chàng trai đắm sắc, sau một đêm với mỹ nhân, thịt và máu của y chưa đủ một bữa tiệc dính răng cho bầy dạ-xoa nữ.

Đêm thứ hai, năm người như đi lạc vào thế giới âm thanh mê hoặc và xao xuyến lòng người. Đầu núi, triền non, lùm cây, khóm đá... đâu đâu cũng vọng lại giọng ca, điệu hát dặt dìu, xen lẫn là lời bướm ong tình tự, tiếng cười mời mọc, hờn yêu, nũng nịu...

Hoàng tử tỉnh thức ngay:

- Hãy an trú niệm đi các bạn! Nó là lưỡi kiếm vô hình, vô ảnh sẽ xuyên ngọt vào trái tim, vào ý chí, vào khối óc kiên cường của chúng ta đấy! Kẻ nào bạc nhược tâm hồn thì sẽ nằm xuống nơi chiếc giường của ma nữ, vĩnh viễn không ngồi dậy được đâu!

Trên ngọn đồi thấp, một bầy tiên nữ hiện ra như thực như hư, như có như không...

Một người chợt đi chậm lại.

- Sao vậy? Hoàng tử hỏi - bạn lại bị đau chân à?

- Thưa không! Người kia đáp - Tôi bị đau bụng!

Hoàng tử thoáng nghe nhạc điệu thay đổi, bây giờ đã réo rắt, mê ly đến cùng cực - làm chàng bổi hổi, bồi hồi. Thỉnh thoảng lại xen lẫn vài tiếng ư ử dâm dật, lời thốt khẽ như đau đớn, như khoái lạc - dẫu chàng đã tỉnh thức cao độ mà trái tim vẫn rung động mấy lần. Chàng cắn răng, kiên gan chiến đấu với ý nghĩ: Một chút thất niệm ở đây - thì ngày mai chỉ còn là một đống xương trắng!

- Hoàng tử hãy đi đi - Người kia mê loạn nói - Tôi tình nguyện nằm chết ở đây!

Hoàng tử thở dài, lấy hết ý chí và sức bình sinh, thốt lên một lời ca chưa từng được nghe:

“- Hỡi thiên âm ma quân! Ngươi đã thắng! Chiếc cầu vồng ngũ sắc âm thanh của ngươi đã êm ái đưa linh hồn bạn ta đến quốc độ khoái lạc và tử vong! Ta hát lên, ca ngợi và tán thán cái tài mê hoặc và sức mạnh quyến dụ của ngươi - sức mạnh ấy còn hơn cả thiên binh vạn mã! Chúng va động vào khối óc và trái tim còn khủng khiếp hơn đao kiếm bổ tung vào đá tảng. Chúng có thể làm bủn rủn một thân chiến tượng. Chúng có thể làm cùn nhụt ý chí và dõng lực kiên cường chiếc thân thần mã nòi giống sindhu tối thượng. Nhưng, ta cho ngươi biết, chúng không thể ràng buộc được gót chân của đệ tử bậc ẩn sĩ. Lại một lần nữa, đệ tử của bậc ẩn sĩ sẽ đánh bại ngươi bằng tâm niệm bình hòa, trung chính và an tĩnh. Vũ khí duy nhất và tối hậu duy nhất của ta là an trú niệm, là sự tỉnh thức miên tục, trường kỳ!”

Hát thế xong, biển âm thanh của dạ-xoa nữ chợt tan mất giữa hư không. Hoàng tử lặng lẽ đưa đôi mắt thương bi nhìn ba người còn lại, bùi ngùi cất bước. Còn kẻ bỏ cuộc, sáng mai, núi rừng lại có thêm một đống xương trắng vô danh.

Rồi tuần tự như vậy, hoàng tử vượt qua, vượt qua... Đến chỗ khu rừng thiên hương, kẻ mê đắm hương rớt lại. Đến chỗ khu rừng thiên vị, kẻ mê đắm vị nằm xuống. Đến chỗ khu rừng thiên xúc, kẻ mê đắm xúc gục ngã. Rốt lại, hoàng tử là chiến sĩ duy nhất và cuối cùng hiên ngang bước qua năm cạm bẫy mà không cần lấy chỉ cột bùa cài lên mái tóc.

Chúa dạ-xoa nữ bặm môi, trợn mắt họp cả bầy lại, cất giọng the thé:

- Các ngươi là đồ ăn hại! Chỉ có sáu con mồi mà cũng để cho sổng mất một con. Hãy chịu tội đi!

Đoàn yêu nữ đồng quỳ xuống van xin được tha tội. Chúa dạ-xoa giận dữ gầm lên. Cả bọn quỳ mọp lạy lục như tế sao, phân trần:

- Quả thật là chúng con oan! Chúng con thật đã hết khả năng. Làm sao chúng con có đủ sức để đánh bại đệ tử của bậc ẩn sĩ ở Tuyết Sơn?

Nghe nói vậy, chúa dạ-xoa nữ dịu giọng:

- Nếu đúng y là đệ tử của những đạo sĩ mặc áo vỏ cây ở Himalaya thì ta sẽ tha cho tội chết!

- Xin chúa hãy ra tay! Bọn yêu nữ đồng thanh tâu - Và hãy túm ngay trái tim của nó xem thử nó run rẩy như thế nào?

Chúa dạ-xoa nữ chợt hóa hình thành một con quỷ sáu đầu, mười hai tay, mười hai chân - cất giọng cười ngạo mạn, rúng động cả hư không, rồi nói:

- Ta mà ra tay thì thầy của y ta cũng nhét trong đũng xiêm, huống hồ là tên đồ đệ!

Rồi ngạo mạn, vênh váo nói:

- Thôi, ta cho các ngươi lui! Khi nào có lệnh, phải tụ họp đầy đủ trong nháy mắt. Hãy để phần tên trẻ ranh cứng đầu ấy, ta sẽ dạy cho y bài học lễ độ!

Bèn hóa hiện ngay dung sắc một thiên nữ diễm kiều, đẹp đến nỗi, ai nhìn vào cũng phải nín thở - ma nữ như cánh hoa trời, lướt qua hư không, theo sát sau lưng con mồi khó nuốt.

Nhắc lại, hoàng tử sau khi vượt thoát năm loại cám dỗ, ra khỏi khu rừng thì bắt đầu nhìn thấy đất trời quang đãng, xóm làng đông vui - khoan khoái thở một hơi dài - nhưng rồi chàng lại trực thức ngay, tự nhủ:

“- Tuy ta đã chiến thắng nhờ không phóng dật, nhờ an trú niệm, nhờ sự tỉnh thức miên tục, trường kỳ - nhưng đến đây, đã thật sự an toàn chưa? Ở nơi cái chỗ bình lặng có vẻ an ổn này, biết đâu loài chúa dạ-xoa vẫn hờm sẵn cạm bẫy chực chờ đâu đó? Phải cảnh giác đề phòng, không được xem thường uy lực và sự xảo quyệt của chúng!”

Vừa nghĩ thế xong, sau lưng liền có tiếng gọi:

- Chàng ơi! Đợi thiếp đi với!

Hoàng tử cảm nghe rúng động cả người, chưa kịp có phản ứng gì thì một mùi hương kỳ lạ phủ chụp làm cho chàng đê mê, ngây ngất... Hoàng tử cắn lưỡi, phun máu để cơn đau làm tỉnh thức lại - nhưng âm thanh mê hoặc kia, mùi hương quái ác nọ còn làm cho chàng dường như mất hết mọi khả năng tự kháng. Bất giác, hoàng tử quay đầu lại và chàng đã đứng sững như trời trồng. Dưới trời đất này sao lại có được cái ma sắc kỳ lạ như thế? Và cũng khiêu khích, gợi tình đến thế? Cả toàn bộ con người nàng đều phát tiết ra, nói lên, chưng bày trọn vẹn, tuyệt hảo tất cả cái hoàn mỹ nhất của tạo hóa - kèm thêm cái no đầy, tươi mát, tràn trề của khoái cảm nhục dục nữa.

Khi hoàng tử đứng lại và run rẩy toàn thân như chờ đợi - thì nữ chúa dạ-xoa không ngạc nhiên gì trước sự chiến thắng không cân sức này. Chính những bậc ẩn sĩ, đạo sư, đạo sĩ... oai nghiêm lẫm lẫm cũng đã từng bị nàng đo ván trên mặt trận sắc, thanh, hương... cường liệt này. Họa hiếm mới thất bại. Còn đối với chàng trẻ tuổi non nớt này... nàng mới chỉ sử dụng một phần công phu tiểu xảo.

Khi nữ chúa dạ-xoa bước tới với con mắt lúng liếng đa tình, với nụ cười lẳng lơ mê hồn, với mùi hương thơm lừng quyến rũ, với xiêm y mịn màng trong suốt... quàng tay ôm hoàng tử - thì nàng chợt thối lui, da mặt tái xanh, hốt hoảng! Một cái gì đó, chớp nhoáng, buốt ngọt như mũi tên nhọn đâm xuyên qua ngực nàng làm nàng đau điếng, toát mồ hôi hột... Nữ chúa dạ-xoa đứng ngây kinh hoàng, hai mắt trợn trừng, ngạc nhiên không xiết kể.

Về phần hoàng tử, sau khoảnh khắc ấy, như từ vùng đen đặc tối tăm, một điểm sáng lóe lên rồi dần dần lan rộng. Mọi cơ năng, cảm quan, ý chí từ từ hồi phục. Hoàng tử cắn lưỡi, phun ra một bụm máu nữa. Giờ thì chàng đã tỉnh thức hoàn toàn. Hoàng tử hiểu, hai tay chàng chợt đưa lên ngực, ở đó có lá bùa cát. Nhờ uy lực của trưởng lão Độc Giác Phật, nếu không chàng đã gục ngã rồi.

Ma nữ nghĩ:

“- Tuy thế, vẫn còn có nhiều cơ hội. Cuộc chiến đấu này thú vị đây! Có cam go thì sự thành mới đáng hãnh diện. Ta còn có thiên vị, thiên xúc; đồng thời lặp đi lặp lãi mãi thiên sắc, thiên âm, thiên hương nữa. Cuối cùng, có thể tung ra đòn tối hậu, một loạt cả năm món vũ khí ấy. Nhưng phải để ý coi chừng, dường như có lá bùa ‘bạch pháp’ nơi ngực hắn!”

Từ lúc ấy, nữ chúa dạ-xoa như hình với bóng theo bên hoàng tử, dùng đủ mọi cách, mọi mưu mô để cám dỗ chàng cho bằng được. Nhưng nữ chúa dạ-xoa đã lầm. Hoàng tử đã hoàn toàn lấy lại sự tỉnh thức ban đầu.

Trên đường, có người hỏi:

- Này mỹ nhân! Người đi trước nàng là ai vậy?

Nữ chúa dạ-xoa nhu mì đáp:

- Là người chồng trẻ yêu quý của tôi đó.

Rồi người ta nói với hoàng tử rằng:

- Này bạn! Khi bạn có người vợ tuyệt sắc, mỹ miều, đẹp như bó hoa, tế nhị như nụ hoa, rực rỡ như vòng hoa. Nàng như được mở ra từ trong một hộp châu báu chói ngời, từ trong một hộp kỳ hương thơm lừng lựng! Nàng đã bỏ gia đình mà theo bạn và đặt lòng tin nơi bạn. Vậy sao không thân yêu đi với nhau, tay trong tay, kề sát nhau hơn - bạn nỡ nào lạnh lùng và vô tình đến thế?

Hoàng tử đáp, mắt nhìn thẳng phía trước:

- Các bạn hãy liệu chừng! Nó không là nữ chúa dạ-xoa thì cũng là “đầu nậu” dạ-xoa đấy! Nó không phải là vợ tôi đâu. Nó đã quyến dụ và ăn thịt năm người bạn đống hành của tôi rồi đó.

Nữ chúa dạ-xoa cười duyên mà đáp:

- Ôi! Thưa các ngài! Khi mà người đàn ông đã ăn ở hai lòng - thì người vợ đầu gối tay ấp, ân ái mặn nồng cũng biến thành nữ yêu, nữ quỷ hết!

Người ta tin nàng. Còn hoàng tử thì cứ một mực cắm cúi, rảo bước nhanh, tất cả lời tiếng gì cũng như gió thoảng ngoài tai. Nữ chúa dạ-xoa bắt đầu tức tối, hậm hực... khi hiện hình có mang, khi hiện dáng sanh con, khi ẵm con bên nách, khi thì hiện người bị tình phụ... Đến mỗi chỗ dừng chân, nữ chúa dạ-xoa lại bày biện thức ăn đẹp mắt và ngát mùi thơm. Chỉ nhìn và ngửi thôi cũng đã thèm đến rỏ dãi - vì đấy là thiên hương và thiên vị. Nàng lại còn trang hoàng chỗ nằm êm ái và khêu gợi như chiếc giường của dạ-ma phu nhân - rồi trổ tài nũng nịu, mắt liếc mày đưa, phô đùi, phô ngực, phô da thịt nõn nà... Nhưng nữ chúa dạ-xoa đã lầm. Hoàng tử của chúng ta luôn tỉnh thức và an trú niệm.

Chỉ còn mội đỗi đường nữa là vào vương quốc Gandhāra, kinh thành Takkasilā - hoàng tử ngang nhiên quay lại, đối mặt trực diện với nữ chúa dạ-xoa, mỉm cười mà rằng:

- Nữ chúa ma quân! Ngươi không còn là kẻ vô địch nữa rồi!

Nữ chúa đanh đá đáp lại:

- Ta không tin như thế. Rồi có lúc, ngươi cũng phải nằm xuống, quỳ xuống, trườn tới mà hôn cái gấu xiêm của ta!

Hoàng tử cười ha hả một hồi rồi nghiêm sắc mặt:

- Rồi có lúc, ngươi cũng tan theo bóng tối!

Đến trước cổng vào hoàng cung, hoàng tử dừng chân ở nhà chiêm bái, nghĩ rằng:

“- Nếu có nguy hiểm thì nó sẽ xảy ra vào thời khắc cuối cùng này. Ngoài ý chí quyết liệt và sự tỉnh giác liên tục, ta sẽ bảo vệ tuyệt đối an toàn bằng lá bùa hộ mệnh bất khả xâm phạm”.

Bèn lấy sợi chỉ, cột bùa cát lên mái tóc - hoàng tử cầm gươm và đứng dậy.

Chiều xuống rồi tối lại. Nữ chúa dạ-xoa hy vọng đêm nay sẽ đánh gục được hoàng tử bằng chiến thuật tối hậu - nhưng vừa bước vào cửa, nàng lại thụt lùi, sợ hãi. Hoàng tử cầm gươm, đứng bất động như pho tượng thần toát ra uy lực của phạm đế. Lâu lâu nàng lại nhìn vào. Và hoàng tử vẫn không đổi tư thế, không hề lay động, thanh gươm chấp chóa ánh trăng. Một cái gì buốt lạnh va vào tim nàng, run lẩy bẩy. Nàng thở dài, tuy thế, vẫn kiên gan chờ đợi.

Canh ba về sáng, biết là giờ khắc quan trọng, nếu không chiến thắng thì sẽ vĩnh viễn chiến bại - nữ chúa dạ-xoa bèn huy động tất cả chiến thuật mê hồn nhất của loài yêu. Nàng hiện hình hằng chục tiên nữ đẹp và khêu gợi đến hồn xiêu phách tán, lõa lồ, trần truồng, ẩn ẩn hiện hiện chập chờn xung quanh hoàng tử với lời tiếng nỉ non, tình tứ. Hương của cõi trời, của thiên nữ sực nức gian phòng. Tiếng cười dâm loạn lẫn nhạc ca du dương như mời gọi chàng vào cuộc đắm say trường lạc.

Đêm đã qua, cuối cùng, chúa dạ-xoa thất bại. Nàng vẫn chưa chịu bỏ cuộc mà hiện hình thành một thiếu nữ khuê các, hiền thục, trâm anh đứng tựa bên cửa...

Sáng sớm, đức vua nước Gandhāra ngự du hoàng thành, đến nhà chiêm bái, thấy cô gái, ngài cho dừng voi lại. Đăm đăm nhìn mỹ nhân, nhà vua rúng động, mồ hôi vã ra, tim nhảy loạn, hơi thở dồn dập. Suốt đời làm một vị vua chí tôn, ông chưa làm chủ được một mỹ nhân thanh tân diễm lệ đa tình như thế! Lâu lắm, nhà vua mới mở lời, dường như bị đứt hơi:

- Nàng là ai? Từ đâu đến? Có chồng hay chưa?

- Kẻ hèn mọn là gái có chồng! Nữ chúa dạ-xoa đoan trang nhỏ nhẻ đáp - Chồng tôi đang nghỉ kia, trong nhà chiêm bái. Kẻ hèn mọn phải đứng hầu, mong bệ hạ lượng thứ!

Hoàng tử nghe vậy, bước ra tâu:

- Nó không phải vợ tôi. Nó là nữ chúa dạ-xoa đang tìm cách cám dỗ tôi. Nó đã ăn thịt năm người bạn đồng hành của tôi. Xin bệ hạ thận trọng!

- Ôi! Tâu đại vương! Nữ chúa dạ-xoa mỉm cười duyên dáng, mê hồn rồi nói - Khi người đàn ông đã đổi dạ thì nó muốn nói gì mà chẳng được!

Đức vua đưa mắt nhìn chàng trai:

- Vậy thì ngươi không phải là chủ nhân của mỹ nhân kia chứ?

- Đã không phải là chủ - hoàng tử đáp - cũng không phải là người quen biết mà lại còn sợ bị nó ăn thịt nữa!

Đức vua cười ha hả:

- Vậy thì tốt! Hãy ăn thịt ta đi, hỡi nữ chúa dạ-xoa! Trong vương quốc này, vật gì không có chủ là thuộc phần ta!

Vua gọi cô gái đến, ẵm nàng lên lưng voi, cho ngồi kề sát mình rồng, dạo khắp thành một vòng, về cung, đặt lên địa vị hoàng hậu.

Không mấy chốc, việc này được đồn đãi khắp nơi. Người hiếu kỳ, kẻ tò mò. Ai cũng bàn tán, ngạc nhiên, sao chàng trai kia lại từ chối, không nhận vợ là một cô gái thiên kiều bá mị, đẹp tuyệt trần? Một số quan lại, đại thần lão niên đến gặp chàng trai để mong hiểu rõ tường tận sự việc. Hoàng tử cứ tình thật kể lại. Nghe xong, các vị đại thần đứng dậy, nghiêng người xá hoàng tử rồi kính cẩn thốt lên:

- Vĩ đại thay là chiến thắng này! Một vạn lần chiến thắng hùng binh cũng không bằng một lần chiến thắng mình, chiến thắng mỹ nhân và dục vọng! Chàng trai quả xứng đáng là đệ tử của các bậc ẩn sĩ thanh tịnh!

Sau đó, họ lại than rằng:

- Tại sao quốc độ của chúng tôi lại thiếu phước, không sản sinh được một đức vua, chỉ cần bằng một phần mười sáu đức hạnh của chàng trai này? Ôi! Mấy chục, mấy trăm vợ chính, vợ hầu rồi mà cũng không thỏa cái bầu nhục dục vô độ ư? Nước nhà sẽ tan nát vì con quỷ cái kia mất thôi!

Đêm ấy, trên long sàng, nữ dạ-xoa khóc thổn thức. Vua ân cần hỏi:

- Nàng có điều chi không được vừa ý?

Dạ-xoa chúa nũng nịu:

- Kẻ hèn mọn đã được đại vương thấy ở giữa đường, đem về cung đặt lên địa vị hoàng hậu. Ân mưa móc trời biển ấy, tôi không dám quên. Nhưng ở đây, giữa đám hậu, phi, cung nga thể nữ, chắc hẳn họ sẽ coi tôi như là thù địch. Đại vương có biết, rồi họ sẽ nói như thế nào về kẻ hèn mọn này không?

- Con mèo dấu yêu của trẫm, cứ nói!

- Tâu đại vương! Nàng chợt cất giọng giận dữ - Họ sẽ nói, cha ngươi là ai, mẹ ngươi là ai, dòng họ thọ sanh của ngươi như thế nào? Ôi! Họ sẽ nạt nộ, nhục mạ, sẽ nói những câu ngu ngốc như thế. Họ lại còn bĩu môi, biếm nhẽ mà rằng: Ngươi là cái thứ chi mà đến đây nhận địa vị hoàng hậu? Chỉ là kẻ được đức vua lượm lặt dọc đường, dọc sá đó thôi!

Đức vua có vẻ trầm ngâm bất quyết trước sự thực đó, nhưng đang đắm đuối vì yêu thuật hớp hồn của ma nữ nên dịu dàng nói:

- Vậy thì ta có thể làm gì để giúp đỡ một nửa trái tim của ta không?

- Sao lại không được! Dạ-xoa chúa giận dỗi, hờn mát - Phải mà! Đại vương có yêu thương gì tôi đâu! Với quyền uy của đức vua chí tôn mà lại không giúp được hay sao? Thôi, chúng ta hãy tuyệt tình từ nay!

Nói xong, dạ-xoa ngồi bật dậy với thái độ quả quyết. Đức vua hoảng hốt níu lại:

- Ta yêu nàng hơn cha, hơn mẹ, hơn cả tông môn thánh miếu, hơn cả ông trời, ông đất. Vậy thì gì nào? Nàng muốn gì nào?

Nữ chúa dạ-xoa dịu giọng:

- Đại vương chỉ cần cho phép thiếp sử dụng thế lực và quyền uy trên vương quốc này - thì thiếp sẽ bỏ ngoài tai tất cả những lời gièm pha, phỉ báng kia!

Đức vua nhăn mày rồi ngọt ngào, vỗ về:

- Điều ấy không được rồi! Điều ấy cần hỏi ý kiến của các quan đại thần, lại còn phải được sự chấp thuận của những vị lão thần dày công hãn mã (15) nữa...

Chúa dạ-xoa giả vờ hiểu lẽ phải trái, đồng ý điều ấy là khó xử nên đi qua mưu kế bước hai:

- Không thế lực cả vương quốc thì thế lực trong hậu cung thì được chứ? Vả chăng, đã là hoàng hậu thì kẻ hèn mọn này có quyền uy như vậy chứ?

Đức vua gật đầu. Thế là hôm sau, chúa dạ-xoa lấy quyền uy của mình đi kiểm soát tất cả cung phòng, cửa ngõ, đếm số người và thu giữ tất cả chìa khóa. Ai cũng căm giận nhưng chỉ biết cắn răng chịu đựng - vì quyền uy của nàng đã được đức vua trao cho một cái triện ngọc đỏ chói.

Đêm ấy, trên long sàng, nữ chúa dạ-xoa đoạn lìa sanh mạng của đức vua - ăn tất cả gân, da, máu và thịt, chỉ để lại xương và tóc. Nó còn dùng thần lực gọi hằng trăm dạ-xoa cái thuộc hạ, trao cho những chìa khóa, lần lượt ăn thịt hết hậu, phi, cung nga thể nữ... cho đến chó gà cũng không bỏ sót. Các loài vật to lớn như voi, ngựa, bò, dê... thì chúng không thèm ăn, chỉ giết để làm thú tiêu khiển.

Sáng mờ, nữ chúa dạ-xoa oai vệ phi ra cổng thành, sau lưng là đám thuộc hạ như làn khói đen, về trú xứ của chúng, bỏ lại đằng sau một hậu cung xương máu và lạnh ngắt...

Mặt trời lên đã lâu mà cửa nội cung không ai mở. Giờ canh báo sáng đã lâu mà lầu cao, lầu thấp ở bên trong đều im ỉm, cửa đông cửa tây vắng hoe, không nghe một tiếng động... Tốp binh ngoại thành sinh nghi, hô hoán lên. Một số tìm cách phá cổng, đạp cửa mà vào. Đâu đâu cũng vương vãi máu và xương. Không còn một ai sống sót.

Cả kinh thành rúng động, kéo nhau đến tận nơi chứng kiến thảm cảnh kinh hoàng. Các vị lão thần cho họp bá quan để xử lý mọi việc trên đống xương tàn.

Khi tất cả mọi nơi đều đã được thu dọn sạch sẽ, một cuộc hội nghị cấp tốc được hình thành. Người ta thảo luận nguyên nhân khiến đức vua và mấy trăm người đẹp nội cung bị thảm sát và việc ngôi vua đang bị bỏ trống.

- Chuyện người thanh niên nói về nữ chúa dạ-xoa là có thực, đã được minh chứng. Còn nhà vua của chúng ta vì đắm sắc mà bị thảm sát. Ấy là bài học đắt giá, bài học ngàn đời! Quốc độ của chúng ta cần một đức vua đoan chính, đức hạnh để trăm họ được nhờ!

Một vị lão thần góp ý quyết định:

- Sao triều thần không triệu thỉnh ngay chính chàng trai lạ lùng, với câu chuyện thật mà khó nghe, khó tin ấy? Y hiện đang ở nhà chiêm bái. Y đã một đêm một ngày cầm gươm chiến đấu với nữ chúa dạ-xoa, không cần ăn, không cần uống, thân bất động như tượng thần, khí sắc trầm tĩnh và an nhiên như hư không. Kẻ mà có sáu cửa thanh tịnh đến độ vượt qua năm loại cám dỗ của ma quân, kiên trì an trú niệm để chiến thắng dục vọng của chính mình, lại không xứng đáng cho vương quốc này tôn thờ và ngưỡng vọng hay sao?

- Xứng đáng! Xứng đáng làm vua kế vị!

Văn võ bá quan nhất trí tung hô, vui tươi, hoan hỷ về quyết định sáng suốt ấy.

Thế là cung điện trong ngoài được đèn treo, hoa kết. Làm biếc những thảm cỏ xanh. Rải hương, xông trầm các nơi tanh tưởi, dơ uế. Làm sạch các vệt máu loang lổ trên tường, nơi cửa sổ, dưới nền hoa... Sau đó, bá quan văn võ kéo nhau sau lưng chiếc kiệu rồng, rần rộ đến nhà chiêm bái. Trong khi đó, dân chúng khắp kinh thành hay chuyện, họ chưng bày bàn hương bái vọng, nô nức vui cười, reo ca nhảy múa, bừng bừng cả trời hoan lạc và thanh bình.

Hoàng tử được làm lễ quán đỉnh lên ngôi vua, trị vì quốc độ đúng chánh pháp, luôn được các vị Phật Độc Giác ở Himalaya nhắc nhở, dạy bảo về những thiện pháp như bố thí, trì giới, yêu dân như con, công bình, liêm chính và trong sạch...

Đức Phật thuyết xong, không gian xung quanh chợt yên lặng như đất trời vào đại định. Hội chúng yên lặng theo, chìm đắm trong tư duy, không một tiếng ho, không một cử động nào của thân, của chân tay, không một hơi thở thô tháo. Họ kính trọng sự yên lặng của đức Bổn Sư. Họ kính trọng sự yên lặng của pháp. Họ kính trọng sự yên lặng của pháp ngữ, pháp nghĩa...

Lâu lắm, đức Phật mới tiếp tục mở lời:

- Này chư tỳ-khưu! Thật hy hữu thay là câu chuyện trên, là bài pháp thậm thâm vi diệu chưa từng được nghe! Chư vị biết gì, hiểu gì về pháp ngữ, pháp nghĩa ẩn đằng sau câu chuyện ấy?

Này chư tỳ-khưu! Hoàng tử vượt qua năm loại cám dỗ ấy là Như Lai thuở xưa đó! Nhờ vượt qua năm loại cám dỗ mà hoàng tử đạt được vương vị và quốc độ! Nhưng nếu ý nghĩa chỉ có chừng ấy thì Như Lai không nói thậm thâm vi diệu. Tại sao vậy?

Này chư tỳ-khưu! Bài pháp ấy phải được hiểu một cách rõ ràng như sau: Năm loại cám dỗ là sắc, thanh, hương, vị và xúc được sắp đặt trong năm khoảng rừng cám dỗ khác nhau; năm người bạn đồng hành gục ngã tượng trưng cho mắt, tai, mũi, lưỡi và thân gục ngã. Còn nếu “ý” không gục ngã, biết kiên cường, kiên trì an trú niệm - được hiện thân là hoàng tử vậy.

Này chư tỳ-khưu! Trên đường tầm cầu giác ngộ, giải thoát khổ sinh tử, phiền não, tiến tu vất vả, gian lao đầy những cạm bẫy, những ma chướng; nếu mắt tai mũi lưỡi và thân có bỏ cuộc, có gục ngã - nhưng “ý” không bỏ cuộc, không gục ngã, kẻ ấy vẫn tồn tại trong giáo pháp của Như Lai! Nếu “ý” không bỏ cuộc, không gục ngã, vẫn cầm gươm không lay động - thì cuối cùng, ý vẫn đạt được vương vị, đạt được đóa hoa vương quốc!

Đóa hoa vương quốc ấy còn cần phải được hiểu là an lạc, là chân phúc, là Niết-bàn vậy.

Và tại sao hoàng tử phải lên đường trong vòng bảy ngày? Điều này Như Lai cũng đã từng tuyên thuyết, khéo giảng, khéo ví dụ! Pháp tu Tứ niệm xứ của Như Lai không cần thiết phải trải qua bảy năm, bảy tháng mà chỉ cần bảy ngày rốt ráo nhất tâm tỉnh thức, an trú niệm - thì đóa hoa vương quốc, Niết-bàn tối thượng sẽ thành tựu trong tâm vị ấy, không sai trật, không lâu, không chậm vậy.



(1) Kinh sách nào cũng ghi, hạ thứ 13, đức Phật an cư tại tảng đá Cālika hoặc làng Cālika. Nhưng theo “ Dictionnary of Pāḷi Proper Names” - thì đó là một ngọn đồi màu trắng, hoàn toàn trắng (The hill was quite white in colour). Nó còn cho biết có con sông Kimikālā và ngôi làng Jantu với vườn xoài (mango grove) tươi đẹp mà thị giả Meghiya thích thú nữa.

(2) Kāmavitakka: Dục tầm - tức là tầm cầu, suy nghĩ, tìm kiếm để thỏa mãn ái dục - nhất là nhu cầu vật chất, thân xác.

(3) Byāpādavitakka: Sân tầm - tức là tầm cầu, suy nghĩ, tìm kiếm những gì liên hệ đến nóng nảy, bực bội, giận dữ, sân...

(4) Vihiṃsāvitakka: Hại tầm - tức là tầm cầu, suy nghĩ, tìm kiếm những gì liên hệ đến hận, đến thù, đến sự mưu hại chúng sanh khác.

(5) Kalyāṇamitta.

(6) Sīla.

(7) Dhammakāmatā.

(8) Viriya.

(9) Udayabbhayañāṇa: Trí thấy rõ danh sắc sinh diệt.

(10) Yonisomanasikāra: Hướng tâm đúng sự thật (như lý tác ý).

(11) Asubha: Bất tịnh. Là bất tịnh của 32 thể trược, bất tịnh của thức ăn, bất tịnh qua mười giai đoạn thay đổi và biến hoại của tử thi từ khi mới chết cho đến khi thành đống xương trắng.

(12) Mettā: Tâm từ tức là tình thương vô lượng vô điều kiện - chứ không phải “từ bi quán” như nhiều kinh sách đã lầm lẫn.

(13) Ānāpānassati: Niệm hơi thở vào ra - gồm sổ tức niệm (đếm hơi thở) và tùy tức niệm (theo dõi hơi thở).

(14) Ba tà tư duy: Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy.

(15) Mồ hôi ngựa - ý nói là công lao sâu dày lập chiến công ngoài chiến trường để xây dựng quốc độ, bảo vệ giang sơn.

 

 

Send comment
Your Name
Your email address