(View: 838060)
Chủ nhật đầu tháng 12, Chùa Vô Môn có tổ chức ba ngày tu tập từ 6.00Giờ chiều thứ Sáu đến 6.00Giờ chiều chủ nhật. Chủ nhật đầu tháng 11 là NGÀY 1 THÁNG 12 NĂM 2019. Xin liên lạc số điện thoại (714) 206-1024 để biết thêm chi tiết.
(View: 48955)
Hấp hối có nghĩa là gần chết. Có nhiều từ đồng nghĩa cùng biểu đạt cho trạng thái này như đang lâm chung, thời gian cận tử, lúc sắp chết… Độ ở đây mang ý nghĩa chuyển hóa, giúp người vượt qua, giáo hóa cho người.

- Pháp Hạnh Chân thật Ba la mật (Bậc hạ-Bậc trung)

Wednesday, August 14, 201312:00 AM(View: 6747)

 

Nền Tảng Phật Giáo 

Quyển VI (Pháp Hạnh Ba La Mật_Tập 3)

Soạn giả:Tỳ khưu Hộ Pháp

 

 

Pháp Hạnh chân thật Ba la mật (Saccapāramī)

 

Pháp Hạnh Chân Thật Ba-la-mật Bậc Hạ 

Tích Vaṭṭakajātaka (Wat-ta-ka-cha-ta-ka)

Trong tích Vaṭṭakajātaka,[1] Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama sinh làm kiếp chim cút con (vaṭṭaka) thực hành pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc hạ (Saccapāramī). Tích này được bắt nguồn như sau:

Đức Thế Tôn ngự đi khất thực cùng với số đông chư tỳ khưu Đại Đức Tăng trong xóm nhà dân Magadha. Sau khi độ vật thực xong, Đức Thế Tôn ngự trở về cùng với số đông chư tỳ khưu Đại Đức Tăng đến giữa khu rừng. Khi ấy, vào mùa nắng nóng, các cành cây khô cọ xát vào nhau phát ra lửa, trở thành đám cháy rừng lớn dữ dội cả phía trước lẫn phía sau, xung quanh, đám cháy rừng khói lửa bốc lên nghi ngút đang cháy lan đến chỗ đứng của chư tỳ khưu Đại Đức Tăng.

Trong số chư tỳ khưu ấy, có vị còn là phàm nhân sợ bị chết thiêu nên bàn tính với nhau rằng:

- Này các pháp hữu! Chúng ta nên châm lửa đốt cháy rừng ngược lại, để ngăn chận ngọn lửa cháy lan đến chỗ đứng của chúng ta.

Họ đang cặm cụi lấy 2 viên đá đánh cho phát ra lửa.

Một nhóm tỳ khưu khác hỏi rằng:

- Này các pháp hữu! Các pháp hữu đang làm gì vậy?

Các vị tỳ khưu ấy nói cho biết ý định đốt cháy rừng chận đường lửa.

 Nghe nói như vậy, nhóm tỳ khưu nói rằng:

- Này các pháp hữu! các pháp hữu không thấy Đức Phật Chánh Đẳng Giác là bậc Tối Thượng trong toàn thể chư chiên, phạm thiên, nhân loại, Ngài đang ngự đứng phía trước chúng ta hay sao!

Các pháp hữu làm như người không nhìn thấy vầng trăng rằm đang chiếu sáng trên hư không, hoặc như người không nhìn thấy mặt trời đang chiếu sáng trong bầu trời, hoặc như người đứng bờ đại dương mà không nhìn thấy đại dương mênh mông bao la, hoặc người đứng gần núi Sineru to lớn và cao mà không nhìn thấy núi Sineru được hay sao!

Cho nên, các pháp hữu mới có ý định đốt cháy rừng, chận đường lửa cháy lan đến chỗ các pháp hữu.

- Này các pháp hữu! Các pháp hữu hãy cùng nhau đến hầu đứng quanh Đức Thế Tôn.

Nghe lời khuyên bảo như vậy, tất cả chư tỳ khưu đều đến hầu đứng quanh Đức Thế Tôn. Đám lửa rừng cháy lớn đến khoảng cách Đức Thế Tôn 16 karīsa ngọn lửa tự dập tắt, như gặp phải nước.

(Tại chỗ Đức Thế Tôn đứng giữa, phía trước, phía sau, bên phải, bên trái, xung quanh 4 phía khoảng 32 karīsa (khoảng 32 mẫu) ngọn lửa rừng tự dập tắt hẳn).

Nhìn thấy như vậy, chư tỳ khưu vô cùng hoan hỷ tán dương ca tụng Đức Thế Tôn rằng:

“Thật là phi thường! Do oai lực của Đức Thế Tôn, ngọn lửa rừng không có tâm, mà tự dập tắt, như gặp phải nước, không còn cháy lan đến chỗ đứng của Đức Thế Tôn.”

Nghe chư tỳ khưu tán dương ca tụng như vậy, Đức Thế Tôn dạy rằng:

- Này chư tỳ khưu! Ngọn lửa rừng cháy lan đến khoảng cách xa chỗ đứng Như Lai, rồi tự dập tắt ngay, như gặp phải nước, do oai lực của Như Lai không chỉ trong kiếp hiện tại này, mà còn tiền kiếp của Như Lai sinh làm chim cút con phát nguyện bằng chân thật. Do oai lực phát nguyện bằng lời chân thật của chim cút con ấy, khiến cho đám cháy rừng, ngọn lửa tự dập tắt ngay, như gặp phải nước, cách xa tổ chim cút con nằm khoảng 16 karīsa (khoảng hơn 16 mẫu), xung quanh 4 phía.

Từ đó về sau, lửa rừng không phát sinh suốt kiếp trái đất. Đó mới thật là phi thường! 

Khi ấy, Ngài Đại Đức Ānanda trải tấm y 4 lớp, rồi thỉnh Đức Thế Tôn ngự ngồi kiết già, còn chư tỳ khưu đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi trải toạ cụ ngồi xung quanh. Chư tỳ khưu kính thỉnh Đức Thế Tôn rằng:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, do oai lực Đức Thế Tôn, ngọn lửa rừng tự dập tắt ngay, như gặp phải nước, trong kiếp hiện tại thì chúng con đã thấy rõ, còn ngọn lửa rừng tự dập tắt trong tiền kiếp của Đức Thế Tôn như thế nào thì chúng con chưa biết.

Vậy, chúng con kính thỉnh Đức Thế Tôn thuyết về chim cút con, tiền kiếp của Ngài.

Tích Vaṭṭakajātaka

Khi ấy, Đức Thế Tôn thuyết về tích Vaṭṭakajātaka được tóm lược như sau:

 Trong thời quá khứ, trong khu rừng vùng Magadha, Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama sinh vào loài chim cút. Đức Bồ Tát tái sinh trong trứng cút, đến khi phá vỡ vỏ trứng cút, Đức Bồ Tát chim cút con nở ra nằm trong tổ. Cha mẹ cút tha mồi đem về nuôi Đức Bồ Tát chim cút con, Bậc đại thiện trí có trí tuệ.

Khi Đức Bồ Tát chim cút con có 2 chân còn yếu, nên chưa có thể bước đi được, có 2 cánh chưa đủ lông, nên chưa có thể bay lên hư không được,

Hằng năm, vào mùa nắng nóng, cây rừng khô cọ xát vào nhau phát sinh ra lửa, gây ra nạn cháy rừng tại khu rừng vùng Magadha ấy.

 Khi ấy, đám cháy rừng dữ dội, những tiếng nổ lớn nghe kinh hồn, các con thú rừng, các loài chim sợ chết đều bay đi nơi khác lánh nạn. Cha mẹ cút của Đức Bồ Tát cút con tuy thương cút con nhưng không thể tha cút con đi được, nên đành phải để Đức Bồ Tát chim cút con nằm một mình trong tổ, còn cha mẹ cút sợ chết bay đi lánh nạn nơi khác.

Nghe những tiếng nổ kinh hồn, Đức Bồ Tát chim cút con nằm một mình trong tổ ấy, đưa đầu ra nhìn thấy đám khói mù mịt, ngọn lửa rừng đang cháy lan đến tổ của mình nên nghĩ rằng: “ Nếu 2 chân của ta có sức lực thì ta chạy đi nơi khác lánh nạn, nếu 2 cánh của ta có sức lực thì ta vỗ mạnh bay lên hư không đến nơi khác lánh nạn. Cha mẹ của ta sợ chết đã bay đi lánh nạn nơi khác rồi, bỏ lại một mình ta nằm trong tổ này.

Bây giờ, ta không có nơi nương nhờ, không có nơi ẩn náu. Vậy, ta nên làm cách nào để thoát khỏi chết thiêu. 

Tiếp theo, Đức Bồ Tát chim cút con tư duy rằng: “Trong đời này, giới đức đang hiện hữu, sự thật chân lý đang hiện hữu.

Trong thời quá khứ, chư Đức Bố Tát Chánh Đẳng Giác đã thực hành đầy đủ 30 pháp hạnh Ba-la-mật xong, ngự đến ngồi tại đại cội Bồ Đề, chứng ngộ chân lý tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác có đầy đủ giới đức, định đức, tuệ đức, giải thoát đức, giải thoát tri kiến đức, có đầy đủ tâm từ, tâm bi, đức nhẫn nại đối với tất cả chúng sinh muôn loài vô lượng, có Ân đức Phật, Ân đức Pháp, và chính nơi ta cũng có các điều chân thật nữa. 

Vậy, ta nên niệm tưởng đến Ân đức Phật, Ân đức Pháp ấy và các điều chân thật đang hiện hữu trong ta.

 Ta nên phát nguyện bằng lời chân thật, khiến cho ngọn lửa tự dập tắt ngay, để giải cứu ta thoát nạn chết thiêu và các loài chim, các sinh vật khác cũng được

Suy xét xong, Đức Bồ Tát chim cút con phát nguyện bằng lời chân thật rằng:

 “ Santi pakkhā apatanā , santi pādā avañcanā.

 Mātā pitā ca nikkhantā Jātaveda paṭikkama.[2]

- Này lửa! Tôi có 2 cánh mà không bay được,

Tôi có 2 chân mà không bước đi được,

Cha mẹ của tôi đã bay đi lánh nạn nơi khác rồi.

- Này lửa! Ngươi hãy nên tự dập tắt ngay!

Sau khi Đức Bồ Tát cút con phát nguyện bằng lời chân thật xong, ngọn lửa đang cháy dữ dội kia tự dập tắt ngay như gặp phải nước, cách xa tổ của Đức Bồ Tát chim cút con xung quanh khoảng 16 karīsa (khoảng 16 mẫu).

Do oai lực lời chân thật của Đức Bồ Tát chim cút con ấy, từ đó về sau, suốt một kiếp trái đất không xảy ra nạn cháy rừng như hằng năm.

Trong khu rừng ấy, chúng sinh muôn loài sống được an toàn, không còn kinh sợ nạn cháy rừng nữa.

Đức Bồ Tát chim cút sống được an lành cho đến hết tuổi thọ.

Sau khi Đức Bồ Tát chim cút chết, thiện nghiệp cho quả tái sinh trong cõi thiện giới: Cõi người, các cõi trời dục giới an hưởng mọi sự an lạc tại cõi ấy.

Khi ấy, Đức Thế Tôn thuyết dạy rằng:

- Này chư tỳ khưu! Ngọn lửa cháy rừng tự dập tắt, không còn cháy lan đến chỗ đứng này do oai lực của Như Lai không chỉ trong kiếp hiện tại, mà còn tiền kiếp của Như Lai sinh làm kiếp chim cút con phát nguyện bằng lời chân thật, khiến cho ngọn lửa cháy rừng tự dập tắt, không còn cháy lan đến tổ của Đức Bồ Tát chim cút con cũng như vậy.

 Sau khi thuyết tích Vaṭṭakajātaka xong, Đức Thế Tôn thuyết giảng về chân lý tứ Thánh đế, chư tỳ khưu chứng ngộ chân lý tứ thánh đế, số tỳ khưu trở thành bậc Thánh Nhập Lưu, bậc Thánh Nhất Lai, v.v… tùy theo năng lực Ba-la-mật của mỗi vị Tỳ khưu.

Tích Vaṭṭakajātaka Liên Quan Đến Kiếp Hiện Tại.

Trong tích Vaṭṭakajātaka, Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama sinh làm chim cút trong thời quá khứ. Đến khi Đức Phật Gotama đã xuất hiện trên thế gian thì hậu kiếp của những nhân vật trong tích Vaṭṭakajātaka liên quan đến kiếp hiện tại những nhân vật ấy như sau:

- Cha mẹ của Đức Bồ Tát chim cút, nay kiếp hiện tại là Đức Phụ Vương Suddhodana và Mẫu hậu Mahā-mayādevī.

- Đức Bồ Tát chim cút, nay kiếp hiện tại là Đức Phật Gotama. 

10 Pháp hạnh Ba-la-mật

Tóm lược tích chuyện Đức Bồ Tát chim cút con (Vaṭṭaka),tiền kiếp của Đức Phật Gotama đã thực hành pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc hạ, ngoài ra, còn có các pháp hạnh Ba-la-mật khác cũng đồng thời thành tựu: 

- Đức Bồ Tát chim cút con có tâm bi cứu sống các sinh vật trong rừng, đó là pháp hạnh bố thí Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát chim cút con có trí tuệ suy xét các pháp sâu sắc, đó là pháp hạnh trí tuệ Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát chim cút con có tinh tấn, đó là pháp hạnh tinh tấn Ba-la-mật. 

- Đức Bồ Tát chim cút con có đức nhẫn nại, đó là pháp hạnh nhẫn nại Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát chim cút con phát nguyện bằng lời chân thật, đó là pháp hạnh phát nguyện Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát chim cút con có tâm từ đối với tất cả chúng sinh, đó là pháp hạnh tâm từ Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát chim cút con có tâm xả đối với tất cả chúng sinh, đó là pháp hạnh tâm xả Ba-la-mật.

Đó là 7 pháp hạnh Ba-la-mật cũng đồng thời thành tựu cùng với pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc hạ này.

Nhận Xét Về Tích Đức Bồ Tát Chim Cút Con.

Trong tích Vaṭṭakajātaka này, Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama sinh làm kiếp chim cút con (Vaṭṭaka) còn nhỏ chưa bước đi được, chưa bay được, nằm trong tổ, cha mẹ cút tha mồi đem về nuôi Đức Bồ Tát chim cút con.

Khi ấy, đám cháy rừng dữ dội, ngọn lửa đang cháy lan đến chỗ của Đức Bồ Tát chim cút con nằm một mình trong tổ. Đức Bồ Tát chim cút con ấy, tuy có 2 chân, nhưng không thể bước đi được, tuy có 2 cánh, nhưng không thể bay được, Đức Bồ Tát chim cút con ấy không còn nơi nương nhờ, không có nơi ẩn náu nào cả. Ngài tư duy rằng: “Trong đời này, giới đức đang hiện hữu, sự thật chân lý đang hiện hữu…

Trong thời quá khứ, chư Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Chánh Giác tự mình chứng ngộ chân lý tứ Thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác. 

Ta nên niệm tưởng Ân đức Phật, Ân đức Pháp, ấy, và chính ta cũng có các sự thật.

Vậy, ta nên phát nguyện bằng lời chân thật ấy.”

Sau khi tư duy xong, Đức Bồ Tát chim cút con phát nguyện bằng lời chân thật rằng: 

 - Này lửa! Tôi có 2 cánh mà không bay được.

 - Này lửa! Tôi có 2 chân mà không bước đi được.

 - Này lửa! Cha mẹ của tôi đã lánh nạn nơi khác rồi.

 - Này lửa! Ngươi hãy nên tự dập tắt ngay!

Sau khi Đức Bồ Tát chim cút con phát nguyện bằng lời chân thật xong, ngọn lửa đang cháy dữ dội tự dập tắt ngay, như gặp phải nước, cách xa tổ của Đức Bồ Tát chim cút con xung quanh 16 karīsa (khoảng 16 mẫu). 

Từ đó về sau, do oai lực lời phát nguyện chân thật của Đức Bồ Tát chim cút con ấy, nạn cháy rừng hằng năm không còn xảy ra suốt kiếp trái đất ấy. (kappaṭṭhāyiṃ mahātejaṃ). 

Hậu kiếp của Đức Bồ Tát chim cút con quá khứ ấy, nay kiếp hiện tại là Đức Phật Gotama ngự đi cùng chư tỳ khưu tăng Đại Đức Tăng giữa khu rừng trong vùng Magadha, gặp đám cháy rừng dữ dội, ngọn lửa đang cháy lan đến chỗ đứng của Ngài, do oai lực lời phát nguyện chân thật của Đức Bồ Tát chim cút con tiền kiếp của Ngài, khiến ngọn lửa tự dập tắt ngay, như gặp phải nước, cách xa chỗ đứng của Đức Phật xung quanh 4 phía khoảng 32 karīsa (khoảng 32 mẫu).

Sự thật, tử sinh luân hồi của mỗi chúng sinh, phần thân bị tan rã theo mỗi kiếp, còn phần tâm sinh rồi diệt liên tục không ngừng từ kiếp này sang kiếp khác, từ vô thuỷ cho đến kiếp hiện tại trải qua vô số kiếp không sao kể được.

Tâm có chức năng tích luỹ tất cả mọi thiện nghiệp và mọi ác nghiệp. Nghiệp có khả năng cho quả ngay trong kiếp hiện tại, kiếp kế tiếp (tái sinh kiếp sau), và kiếp thứ 3 cho đến kiếp chót của bậc Thánh Arahán, trước khi tịch diệt Niết Bàn. Nếu nghiệp nào có cơ hội thì nghiệp ấy mới có khả năng cho quả của nghiệp ấy.

Sự thật, lời phát nguyện chân thật của Đức Bồ Tát chim cút con (tiền kiếp) trong thời quá khứ vẫn còn có oai lực trong kiếp hiện tại của Đức Phật Gotama, làm cho ngọn lửa tự dập tắt ngay, cách xa chỗ đứng của Đức Phật Gotama xung quanh khoảng 32 karīsa (khoảng 32 mẫu). Cho nên, lời phát nguyện chân thật có oai lực rất phi thường.

Ví như trong tích Kaṇhadīpāyanajātaka(1) này, Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama là vị đạo sĩ Kaṇhadīpāyana (trích một đoạn ngắn) ở tại cốc lá.

Một hôm, một người bạn cũ tên Mandabya dẫn vợ và đứa con trai nhỏ tên Yaññadatta đến thăm, cúng dường các thức vật dụng đến đạo sĩ Kaṇhadīpāyana tại cốc lá. 

Trong khi Đức Bồ Tát đạo sĩ Kaṇhadīpāyana tiếp chuyện với 2 vợ chồng người bạn, còn đứa bé trai Yaññadatta chạy ra ngoài vườn chơi đánh con quay, con quay xoay chạy rơi xuống miệng hang đụng đầu con rắn hổ mang, cậu bé Yaññadatta đưa tay xuống hang lấy con quay thì bị con rắn hổ mang cắn nơi tay của cậu bé, nọc độc rắn hổ mang xâm nhập vào thân mình làm cho cậu bé Yaññadatta đau đớn hét lớn lên, rồi nằm xuống đất chết giấc. 

Nhìn thấy con như vậy, cha mẹ cậu bé chạy đến bồng con vào đặt dưới chân của ngài đạo sĩ Kaṇhadīpāyana, bạch rằng:

- Kính bạch Ngài đạo sĩ, cầu xin Ngài chữa trị, cứu mạng con của chúng tôi.

Đức Bồ Tát đạo sĩ Kaṇhadīpāyana bảo rằng:

- Này 2 bạn! Bần đạo không có thuốc chữa trị nọc rắn độc.

- Kính bạch Ngài đạo sĩ, nếu Ngài không có thuốc chữa trị nọc rắn độc, thì kính xin Ngài phát nguyện bằng lời chân thật vậy!

Đức Bồ Tát đạo sĩ Kaṇhadīpāyana nhận lời:

Lành thay! Bần đạo phát nguyện bằng lời chân thật.

Đức Bồ Tát đạo sĩ Kaṇhadīpāyana đưa bàn tay phải đặt trên đầu của bé Yaññadatta phát nguyện bằng lời chân thật rằng:

“Bần đạo mong tạo nhiều phước thiện, nên từ bỏ nhà đi xuất gia trở thành đạo sĩ với đức tin trong sạch.

Bần đạo rất hoan hỷ thực hành phạm hạnh một cách hoàn toàn trong sạch chỉ có được 7 ngày đầu mà thôi.

Từ đó về sau, dù không hài lòng đời sống đạo sĩ, bần đạo vẫn ráng chịu đựng thực hành phạm hạnh trải qua suốt hơn 50 năm, mà không một ai biết được.

 Do oai lực của lời chân thật này của bần đạo, xin cho nọc rắn độc trong thân thể của bé Yaññadatta hãy được tan biến.

Cầu mong sự an lành đến với bé Yaññadatta. Xin bé Yaññadatta được hồi sinh.”

Sau khi Đức Bồ Tát đạo sĩ Kaṇhadīpāyana phát nguyện bằng lời chân thật trên vừa chấm dứt, thì nọc rắn độc trong thân thể của bé Yaññadatta được tan biến dần xuống đến ngực.

Bé Yaññadatta mở mắt gọi “Mẹ kính yêu của con!” rồi nằm yên. 

Khi ấy, Đức Bồ Tát đạo sĩ Kaṇhadīpāyana động viên khuyến khích người cha của bé Yaññadatta rằng:

- Này bạn Maṇḍabya! Oai lực của bần đạo chỉ có bấy nhiêu. Vậy, bạn hãy nên phát nguyện bằng lời chân thật của bạn thêm nữa, để làm cho nọc độc rắn được tan biến.

Tiếp theo người cha của bé Yaññadatta đưa bàn tay đặt trên ngực của con, rồi phát nguyện bằng lời chân thật của mình rằng:

“Khi tôi thấy người khách đến xin nghỉ lại, dù đôi khi tôi không hài lòng cho người khách ấy, mà tôi vẫn để cho người khách ấy nghỉ lại nhà. 

Đó là điều mà các sa môn, Bà-la-môn không biết tôi không hài lòng, và chính tôi cũng không muốn cho ai biết điều ấy.

Do oai lực lời chân thật này của tôi, xin cho nọc rắn độc trong thân thể của Yaññadatta con tôi hãy được tan biến ngay.

Cầu mong sự an lành đến với con của tôi. Xin Yaññadatta con của tôi được hồi sinh”.

Sau khi người cha của bé Yaññadatta phát nguyện bằng lời chân thật trên vừa chấm dứt, thì nọc rắn độc trong thân thể của bé Yaññadatta con của ông được tan biến xuống phía dưới, Yaññadatta con của ông có thể ngồi dậy được, nhưng chưa có thể đi được. 

Ông Maṇḍabya cha của bé Yaññadatta bảo người vợ của ông rằng:

- Này em yêu quý! Anh chỉ có oai lực bấy nhiêu. Vậy, em hãy phát nguyện bằng lời chân thật của em thêm nữa, để cho con của chúng ta được hoàn toàn bình phục.

Vâng lời chồng, với tình thương yêu của người mẹ đối với con, nên bà can đảm phát nguyện bằng lời chân thật của bà rằng:

- Này Yaññadatta con yêu quý của mẹ! Con rắn hổ mang có nọc độc kinh khủng cắn con như vậy. Con rắn hổ mang ấy không phải là nơi yêu thương của mẹ trong ngày hôm nay. Cũng giống như cha của con không phải là người chồng yêu thương của mẹ đã từ lâu. Đó là điều mà không một ai biết được.

 Do oai lực của lời chân thật này của mẹ, xin cho nọc rắn độc trong thân thể của Yaññadatta con của tôi hãy được tan biến hết thảy.

Cầu mong sự an lành đến với Yaññadatta con của tôi, Yaññadatta con của tôi được hoàn toàn bình phục.

Sau khi người mẹ của Yaññadatta phát nguyện bằng lời chân thật trên vừa chấm dứt, thì nọc rắn độc trong thân thể của bé Yaññadatta con của bà được tan biến hết thảy, Yaññadatta con của bà hoàn toàn bình phục, đứng dậy nói năng chạy đi chơi như trước.

Như vậy, lời phát nguyện chân thật có oai lực làm tan biến được nọc rắn độc. Thật là điều phi thương!

Oai lực của lời phát nguyện chân thật phải là điều có thật của mình hoặc của người khác. Điều có thật ấy dù là điều tốt, dù là điều xấu cũng vẫn là điều chân thật mà người phát nguyện bằng lời chân thật ấy chắc chắn có được oai lực phi thường.


[1] Bộ Jātakaṭṭhakathāpāḷi, phần Ekakanipāta, Tích Vaṭṭakajātaka

 



 

Pháp Hạnh Chân Thật Ba-la-mật Bậc Trung (Sacca Upapāramī)

 

 Tích Macchajātaka (Mach-chá-cha-tá-ká) 

Trong tích Macchajātaka(1), Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama sinh làm Vua loài cá thực hành pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc trung (Sacca upapāramī). Tích này được bắt nguồn như sau:

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh thành Sāvatthi. Khi ấy, trong đất nước Kosala gặp lúc hạn hán kéo dài, không mưa làm cho mùa màng khô héo, không trồng trọt được, bởi vì các con sông, suối, hồ nước lớn đều khô cạn. Ngay cả hồ nước lớn ở trong khuôn viên của ngôi chùa Jetavana, gần cổng ra vào cũng bị khô cạn. các loài cá, rùa v.v…đều tìm chui vào lớp bùn để lánh nạn.

Nhìn thấy cảnh tượng bầy quạ, bầy diều v.v… bay đến hồ, dùng mỏ bới lớp bùn bắt các con cá đang vùng vẫy để ăn, Đức Thế Tôn phát sinh tâm đại bi, muốn cứu sống các con cá, v.v... thoát khỏi cảnh khổ chết chóc này, nên Đức Thế Tôn nghĩ rằng:

“Như Lai nên khiến cho trời mưa xuống tràn đầy hồ nước này”

Buổi sáng hôm ấy, Đức Thế Tôn ngự vào kinh thành Sāvatthi khất thực cùng với số đông chư tỳ khưu Tăng. Sau khi độ ngọ xong, Đức Thế Tôn ngự trở về ngôi chùa Jetavana cùng với số đông chư tỳ khưu Tăng.

Khi vào cổng chùa Jetavana, Đức Thế Tôn ngự đến đứng tại bậc cấp hồ nước lớn của ngôi chùa Jetavana, rồi truyền bảo Ngài Đại Đức Ānanda rằng:

- Này Ānanda! Con hãy đem tấm y tắm đến đây, Như Lai sẽ tắm tại hồ nước này, 

Ngài Đại Đức Ānanda bạch rằng:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, nước trong hồ lớn này đều khô cạn, chỉ còn lại bùn mà thôi. Bạch ngài.

- Này Ānanda! Thông thường, oai lực của Chư Phật thật là phi thường. Vậy, con hãy nên đem tấm y tắm đến cho Như Lai.

Vâng lời dạy của Đức Thế Tôn, Ngài Đại Đức Ānanda đem tấm y tắm đến dâng lên Đức Thế Tôn.

Nhận tấm y tắm, Đức Thế Tôn thay bộ y, mặc tấm y tắm vào, một tấm trùm cái đầu, đứng tại bậc cấp hồ nước lớn, có ý định rằng:

Như Lai sẽ tắm nước hồ Jetavana này.”

Ngay khi ấy, tảng đá quý của Đức Vua Trời Sakka phát nóng, Đức Vua Trời Sakka xem xét nguyên nhân, thì biết rõ ý định của Đức Thế Tôn. Cho nên Đức Vua Trời Sakka truyền gọi Đức Thiên Vương làm mưa (Vassavalahaka devarājā) đến, rồi truyền bảo rằng:

- Này vị Thiên Vương, Đức Thế Tôn có ý định sẽ tắm nước hồ Jetavana này. Ngài đang đứng tại bậc cấp hồ nước Jetavana ấy.

Vậy, ngươi hãy mau đến nơi ấy, làm cho trời mưa khắp mọi nơi trên toàn đất nước Kosala.

Tuân theo lệnh của Đức Vua Trời Sakka, Đức Thiên Vương làm mưa hiện đến nơi ấy hóa ra từng đám mây những tia chớp…. , một lúc sau, mưa trút xuống tràn khắp mọi nơi trên đất nước Kosala. Tại hồ nước lớn Jetavana nước đã lên đầy.

Khi ấy, Đức Thế Tôn tắm nước hồ Jetavana xong, thay tấm y tắm bằng bộ y, rồi Ngài ngự đến cốc Gandhakuṭi, cùng với chư tỳ khưu Tăng, Đức Thế Tôn đứng trên tảng đá truyền dạy chư tỳ khưu Tăng xong, Đức Thế Tôn ngự vào cốc Gandhakuṭi nghỉ ngơi, còn chư tỳ khưu trở về chỗ ở của mình.

Vào buổi chiều, số đông tỳ khưu đến tụ hội tại giảng đường, đàm đạo về chuyện Đức Thế Tôn khiến cho trời mưa xuống khắp mọi nơi rằng:

- Này các pháp hữu! Quý vị thấy ân đức của Đức Thế Tôn thật là phi thường! Tâm đại từ, tâm đại bi của Đức Thế Tôn đối với tất cả chúng sinh.

Khi thấy đồng ruộng bị khô hạn, các con sông, suối, hồ nước lớn nhỏ đều bị khô hạn, dân chúng trong nước lâm vào cảnh khổ, các loài cá, rùa, những sinh vật sống dưới nước, v.v… đang chịu cảnh khổ phải chui xuống dưới bùn để lánh nạn.

Muốn cứu giúp tất cả chúng sinh thoát khỏi cảnh khổ, Đức Thế Tôn mặc tấm y tắm đứng tại bậc cấp hồ nước Jetavana, với ý định tắm nước hồ Jetavana này.

Ngay khi ấy, Đức Thiên Vương hiện đến làm mưa xuống khắp mọi nơi trên toàn đất nước Kosala. Trong chốc lát, hồ nước lớn Jetavana có nước lên tràn bờ, để cho Đức Thế Tôn tắm nước hồ Jetavana. Các loài sinh vật sống ở dưới nước đều được an toàn sinh mạng, dân chúng trong đất nước Kosala có nước đầy đủ để cày cấy gieo trồng các loại hoa màu khác, để cuộc sống của người dân được no đủ.

- Này các pháp hữu! Oai lực của Đức Thế Tôn thật là phi thường quá!

Nghe bằng thiên nhĩ cuộc đàm đạo của chư tỳ khưu, Đức Thế Tôn ra khỏi cốc Gandhakuṭi, ngự đến giảng đường, ngồi trên pháp toà truyền hỏi chư tỳ khưu rằng:

- Này chư tỳ khưu! Các con đang đàm đạo về chuyện gì vậy?

Chư tỳ khưu bạch với Đức Thế Tôn về chuyện đang đàm đạo.

Đức Thế Tôn truyền dạy rằng:

- Này chư tỳ khưu! Không chỉ kiếp hiện tại Như Lai là Đức Phật Chánh Đẳng Giác khiến cho trời mưa xuống khắp mọi nơi trên đất nước Kosala, để cứu giúp mọi chúng sinh trong cảnh khổ, mà còn tiền kiếp của Như Lai sinh làm Vua loài cá, khi gặp lúc hạn hán kéo dài làm cho các sông, suối cạn nước. Các loài cá, rùa, các sinh vật sống dưới nước, v.v… đều bị lâm vào cảnh khổ. Đức Bồ Tát Vua cá ấy phát nguyện bằng lời chân thật, khiến cho trời mưa xuống khắp nơi trên đất nước Kosala, làm cho các con sông, suối, hồ lớn, nhỏ đều có nước đầy đủ, cứu sống các loài cá, rùa, các sinh vật sống dưới nước, … đều thoát khỏi cảnh khổ chết chóc.

Chư Tỳ khưu kính thỉnh Đức Thế Tôn thuyết về tiền kiếp của Ngài.

Tích Macchajātaka

Khi ấy, Đức Thế Tôn thuyết về tích Macchajātaka được tóm lược như sau:

Trong thời quá khứ, một suối nước lớn nằm ở giữa khu rừng. Nay thời hiện tại, ngay tại hồ nước lớn Jetavana gần kinh thành Sāvathi trong đất nước Kosala này. Khi ấy, Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama sinh làm Vua các loài cá đông đảo tại suối nước lớn.

 Thời gian hạn hán kéo dài, không có mưa như bây giờ, dân chúng gieo trồng đều bị khô héo, các con sông, suối, hồ nước lớn, nhỏ đều bị khô cạn, cho nên các loài cá, rùa, các sinh vật sống dưới nước, v.v… đều lâm vào cảnh khổ chết chóc.

Ngay dòng suối nước lớn nơi mà Đức Bồ Tát Vua cá đang sống cũng bị khô cạn, các loài cá, rùa, v.v… đều chui xuống bùn nằm lánh nạn.

Khi ấy, bầy quạ, bầy diều,… bay đến dòng suối ấy, dùng mỏ bới lớp bùn bắt con cá còn sống đang vẫy vùng, mổ ăn thịt con cá ấy.

Nhìn thấy cảnh tượng bà con dòng họ cá bị bầy quạ, diều, … sát hại ăn thịt như vậy, Đức Bồ Tát Vua cá nghĩ rằng: “ Ngoài ta ra, không có ai có thể cứu sống các bà con loài cá của ta thoát khỏi cảnh khổ chết chóc này. Vậy, ta nên phát nguyện bằng lời chân thật khiến cho trời đổ mưa xuống, nước tràn đầy bờ, để cứu sống bà con loài cá của ta, thoát khỏi mỏ của bầy quạ, diều, v.v..

Đức Bồ Tát Vua cá ngoi đầu lên khỏi bùn, lộ ra thân hình xinh đẹp, có đôi mắt sáng như hai viên ngọc maṇi, nhìn lên hư không dõng dạc phát nguyện bằng lời chân thật với Đức Thiên Vương Pajjuna làm mưa rằng:

- Muôn tâu Đức Thiên Vương Pajjuna, nhìn thấy cảnh tượng bà con loài cá của tôi bị bầy quạ, bầy diều, … bắt ăn thịt, nên tôi phát sinh tâm đại bi muốn cứ khổ chúng sinh.

Tôi có giới hạnh trong sạch đang bị khổ tâm như thế này, sao Đức Thiên Vương không cứu giúp làm mưa xuống, nước tràn đầy các dòng suối, các con sông, các hồ nước lớn, nhỏ, để cứu sinh mạng của chúng tôi?

- Muôn tâu Đức Thiên Vương Pajjuna, tuy tôi sinh làm loài cá, nhưng tôi chưa hề ăn thịt đồng loại cá dù chỉ là một con cá nhỏ bằng hột gạo, và tôi cũng không có tác ý sát sinh giết hại một sinh vật nào cả.

 Do lời phát nguyện chân thật này, cầu xin Đức Thiên Vương Pajjunna hãy làm mưa xuống, nước tràn đầy các dòng suối, các con sông, các hồ nước lớn nhỏ, để cứu  sống bà con loài cá chúng tôi thoát khỏi nạn diệt vong.

Đức Bồ Tát vua cá truyền dạy các thuộc hạ loài cá đọc câu kệ rằng:

"Abhitthanaya Pajjunna, nidhiṃ kākassa nāsaya.

Kākaṃ sokāya randhehi, mañca sokā pamocaya”

- Muôn tâu Đức Thiên Vương Pajjuna, cầu xin Đức Thiên Vương Pajjunna hãy phát ra những tiếng sấm sét vang rền, những tia chớp sáng ngời cả không gian, rồi làm mưa đổ xuống, nước tràn đầy các dòng suối, các con sông, các hồ nước lớn, nhỏ, làm cho kho vật thực của bầy quạ, diều, v.v… không được nữa.

Cầu xin Đức Thiên Vương Pajjuna làm cho bầy quạ, diều… nóng nảy sầu não, đồng thời giải cứu tôi và bà con dòng họ loài cá chúng tôi cùng với các loài sinh vật khác được thoát khỏi khổ sầu não bởi nạn chết.

Đức Bồ Tát Vua cá và các thuộc hạ đọc bài kệ này xong, trời đổ mưa xuống khắp mọi nơi trên đất nước Kosala, nước đầy tràn các dòng suối, các con sông, các hồ nước lớn, nhỏ không chỉ giải cứu các loài cá, rùa, các sinh vật sống trong nước, mà còn giúp cho dân chúng có nước để cày cấy, trồng trọt các loại cây hoa màu, được thoát khỏi nạn đói khát nữa.

Sau khi thuyết về tích Macchajātaka xong, Đức Thế Tôn truyền dạy rằng:

- Này Chư tỳ khưu! Không chỉ kiếp hiện tại Như Lai là Đức Phật Chánh Đẳng Giác khiến cho trời mưa đổ xuống, mà còn trong tiền kiếp của Như Lai, sinh làm Vua các loài cá cũng đã từng phát nguyện bằng lời chân thật khiến cho trời mưa đổ xuống khắp mọi nơi trên đất nước Kosala này.

Tích Macchajātaka Liên Quan Đến Kiếp Hiện Tại.

Trong tích Macchajātaka này, Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama sinh làm Vua các loài cá trong thời quá khứ. Đến khi Đức Phật Gotama đã xuất hiện trên thế gian thì hậu kiếp của những nhân vật trong tích Macchajātaka liên quan đến kiếp hiện tại của những nhân vật ấy như sau:

- Bà con dòng họ loài cá, nay kiếp hiện tại là tứ chúng: Tỳ khưu, tỳ khưu ni, cận sự nam, cận sự nữ.

- Đức Thiên Vương Pajjunna, nay kiếp hiện tại là Ngài Đại Đức Ānanda.

- Đức Bồ Tát Vua cá, nay kiếp hiện tại là Đức Phật Gotama.

10 Pháp Hạnh Ba-la-mật

Tóm lược tích Đức Bồ Tát Vua cá tiền kiếp của Đức Phật Gotama đã thực hành pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc trung, ngoài ra, còn có pháp hạnh Ba-la-mật khác cũng đồng thời thành tựu như sau:

- Đức Bồ Tát Vua cá giữ giới trong sạch, không giết hại chúng sinh, là bố thí sự an toàn sinh mạng của chúng sinh, đó là pháp hạnh bố thí Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát Vua cá giữ giới trong sạch, đó là pháp hạnh giữ giới Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát Vua cá có trí tuệ suy xét đúng đắn, đó là pháp hạnh trí tuệ Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát Vua cá có sự tinh tấn không ngừng, đó là pháp hạnh tinh tấn Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát Vua cá có đức nhẫn nại, đó là pháp hạnh nhẫn nại Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát Vua cá phát nguyện bằng lời chân thật, đó là pháp hạnh phát nguyện Ba-la-mật.

- Đức Bồ Tát Vua cá có tâm từ đối với chúng sinh, đó là pháp hạnh tâm từ Ba-la-mật.

Đó là 7 pháp hạnh Ba-la-mật khác đồng thời thành tựu cùng một lúc với pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc trung này.

Nhận Xét Về Tích Đức Bồ Tát Vua Cá

Pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc trung là 1 trong 10 pháp hạnh Ba-la-mật bậc trung, cũng là 1 trong 30 pháp hạnh Ba-la-mật mà Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác cần phải thực hành cho được đầy đủ trọn vẹn, để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác ( Sammāsambuddha).

Pháp hạnh chân thật Ba-la-mật đó là lời nói chân thật bằng thiện tâm trong sạch.

Tích Macchajātaka này, Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama sinh làm Vua các loài cá, thực hành pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc trung.

Khi ấy, thời gian nạn hạn hán kéo dài, trời không mưa, nước các dòng suối, các con sông, các hồ nước lớn, nhỏ đều bị khô cạn, nên các loài cá, rùa, các sinh vật, v.v… đều ẩn mình dưới lớp bùn lánh nạn.

Gặp lúc nước bị khô cạn, các bầy quạ, diều, v.v…. bay đến bới lớp bùn bắt những con cá còn sống ăn thịt.

Nhìn thấy cảnh tượng đồng loại các loài cá bị bầy quạ, diều, … ăn thịt, Đức Bồ Tát Vua cá phát sinh tâm đại bi muốn cứu giúp các loài cá, rùa, các loài sinh vật sống trong nước được thoát khỏi cảnh khổ chết chóc này. Cho nên, Đức Bồ Tát Vua cá phát nguyện bằng lời chân thật, rồi khuyên bảo các loài cá thuộc hạ cũng đọc bài kệ cầu Đức Thiên Vương Pajjunna làm cho mưa đổ xuống, nước đầy tràn các dòng suối, các con sông, các hồ nước lớn, nhỏ, để cứu sinh mạng các loài cá, rùa và các sinh vật sinh sống dưới nước, bằng bài kệ như sau:

"Abhitthanaya Pajjunna, nidhiṃ kākassa nāsaya.

Kākaṃ sokāya randhehi, mañca sokā pamocaya"

Thật vậy, sau khi đọc bài kệ này xong, trời mưa từ trên hư không rơi xuống như nước đổ, chẳng mấy chốc, nước đầy tràn các dòng suối, các con sông, các hồ nước lớn, nhỏ, cứu sinh mạng các loài cá, rùa và các sinh vật sinh sống dưới nước, đồng thời làm cho bầy quạ, diều, … phải khổ tâm sầu não, vì mất đi kho vật thực loài cá ở trong nước.

Bài Kệ Cầu Mưa

Về sau, bài kệ này trở thành bài kệ cầu mưa. Mỗi khi trời hạn hán kéo dài, mùa màng không canh tác được, người ta cùng nhau đọc bài kệ cầu mưa ấy.

Để lễ cầu mưa cho được thành tựu, trời mưa xuống như ý. Những người làm lễ cầu mưa phải là những người có giới đức trong sạch, có thành tâm cầu nguyện bằng lời chân thật mới linh ứng.

Như vậy, trước khi làm lễ cầu mưa, những người ấy phát nguyện bằng lời chân thật của mình, rồi tụng niệm đến 9 ân Đức Phật, 6 ân Đức Pháp, 9 ân Đức Tăng, tiếp theo đọc bài kệ cầu mưa ấy.

Cầu mong chư thiên, nhất là Đức Thiên Vương Pajjunna tế độ, giúp làm cho trời mưa xuống, có nước đầy đủ, để tất cả chúng sinh thoát khỏi cảnh khổ thiếu nước, cuộc sống được an lành.

 

(Xong pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc trung)



[1] Tích Mahāsutasomajātaka trong bộ chú giải Jātakaṭṭhakathā, phần Asītinipāta.

[1][2] Ngài Đại Đức Aṅgulimāla, vốn tên thật mà cha mẹ của Ngài đặt là Ahiṃsakakumāra, có nghĩa Công tử Vô Hại. Nhưng về sau vào rừng, Ngài giết nhiều người cắt đầu ngón tay xâu làm vòng đeo trên cổ. Do đó, người ta thường gọi Ngài là Aṅgulimāla (aṅguli: đầu ngón tay + māla: vòng đeo cổ) (Tìm hiểu rõ chuyện này trong quyển 8 Sự tích Phật lực).

 




 

Send comment
Your Name
Your email address