(View: 838060)
Chủ nhật đầu tháng 12, Chùa Vô Môn có tổ chức ba ngày tu tập từ 6.00Giờ chiều thứ Sáu đến 6.00Giờ chiều chủ nhật. Chủ nhật đầu tháng 11 là NGÀY 1 THÁNG 12 NĂM 2019. Xin liên lạc số điện thoại (714) 206-1024 để biết thêm chi tiết.
(View: 48955)
Hấp hối có nghĩa là gần chết. Có nhiều từ đồng nghĩa cùng biểu đạt cho trạng thái này như đang lâm chung, thời gian cận tử, lúc sắp chết… Độ ở đây mang ý nghĩa chuyển hóa, giúp người vượt qua, giáo hóa cho người.

- Pháp hạnh Chân thật Ba La Mật - Bậc thượng (2)

Wednesday, August 14, 201312:00 AM(View: 6214)

 

Nền Tảng Phật Giáo 

Quyển VI (Pháp Hạnh Tinh Tấn Ba La Mật_Tập 3)

Soạn giả:Tỳ khưu Hộ Pháp

 

Pháp hạnh Chân thật Ba La Mật - Bậc thượng (2)

(Saccaparamatthapāramī

4 Bài Kệ

1- “Sakideva Mahārājā, sabbhi hoti samāgamo.

 Sā naṃ saṅgati pāleti, nāsabbhi bahu saṅgamo”.

Ý nghĩa:

Tâu Đại Vương Sutasoma,

 Sự thân cận với chư bậc thiện trí,

Dù chỉ một lần mà thôi,

Sự thân cận ấy cũng hộ trì người ấy được.

Dù gần gũi nhiều lần với những kẻ si mê,

Vẫn không thể hộ trì người ấy được.

 

2-“Sabbhireva samāsetha, sabbhi kubbetha santhavaṃ.

Sataṃ saddhammamaññāya, seyyo hoti na pāpiyo”.

Ý nghĩa:

Hãy nên thân cận với chư bậc thiện trí,

Hãy nên gần gũi kết bạn thân với chư bậc thiện trí.

Sự hiểu biết chánh pháp của chư bậc thiện trí,

Chỉ có cao thượng chứ không có thấp hèn.

 

3- “Jīranti ve rājarathā sucittā,

Atho sarīrampi jaraṃ upeti.

Satañca dhammo na jaraṃ upeti,

Santo have sabbhi pavedayanti”.

Ý nghĩa:

Long xa được trang hoàng đẹp đẽ tuyệt vời,

Cũng có ngày bị cũ rích, hư hoại. Cũng như vậy,

Thân thể được điểm trang xinh đẹp lộng lẫy,

Cũng có ngày đến tuổi già nua, tan rã.

Chư Phật, chư Thánh đều ca tụng Niết Bàn,

Thật sự, pháp Niết Bàn là bất lão, bất tử.

 

 4- “Nabhañca dūre pathavī ca dūre,

Pāraṃ samuddassa tadāhu dūre.

Tato have dūrataraṃ vadanti,

Satañca dhammo asatañca Rājā”.

Ý nghĩa:

Tâu Đại Vương Sutasoma,

Bầu trời xa cách mặt đất,

Mặt đất cũng xa cách bầu trời.

Bờ đại dương bên này xa cách bờ bên kia.

Thật sự, xa cách nhau hơn cả, đó là

Chánh pháp của bậc thiện trí,

Với tà pháp của kẻ si mê.

Thật nghìn trùng xa cách!

Lắng nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma thuyết lại 4 bài kệ với giọng rất hay, còn 4 bài kệ có ý nghĩa thật là sâu sắc, Porisāda phát sinh đức tin trong sạch nơi Ngài, đồng thời phát sinh thiện tâm hỷ lạc chưa từng có bao giờ. Porisāda vô cùng tôn kính Đức Vua Bồ Tát Sutasoma, xem Ngài như là Đức Phụ Vương của mình. Porisāda nghĩ: Đại Vương Sutasoma là bậc đại thiện trí thuyết lại 4 bài kệ có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, thật là cao thượng. Ta không có phẩm vật nào xứng đáng để cúng dường vị Pháp Sư Đại Vương Sutasoma. Vậy, ta nên cúng dường mỗi ân huệ cho mỗi bài kệ, 4 bài kệ là 4 ân huệ đến vị Pháp Sư Đại Vương Sutasoma”.

Nghĩ xong, Y thành kính tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, Pháp Sư kính mến! Đại Vương là bậc Đại thiện trí cao thượng đã thuyết lại 4 bài kệ với giọng rất hay, còn 4 bài kệ có ý nghĩa thật là sâu sắc, làm cho thân tâm tôi phát sinh hỷ lạc chưa từng có bao giờ. Tôi hết lòng thành kính cúng dường đến Ngài, mỗi ân huệ cho mỗi bài kệ, 4 bài kệ là 4 ân huệ với tấm lòng tôn kính và tri ân của tôi.

- Kính xin Pháp Sư Đại Vương Sutasoma nhận 4 ân huệ của tôi.

Nghe Porisāda tâu như vậy, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo rằng:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Bạn là con người ác, không biết hổ thẹn tội lỗi, không biết ghê sợ tội lỗi, không tin nghiệp và quả của nghiệp, không biết thiện nghiệp nên làm, ác nghiệp không nên làm, không biết điều lợi, điều hại, không biết sự tử sinh luân hồi.

Bạn là con người tàn nhẫn, độc ác giết người ăn thịt. Vậy, con người tàn ác như bạn lại có thể cúng dường 4 ân huệ cho tôi thật hay sao? Nếu tôi nói với bạn rằng: Tôi xin nhận đủ 4 ân huệ của bạn, thì bạn có dám cúng dường đủ 4 ân huệ ấy cho tôi hay không?

Bây giờ, bạn hứa sẽ cúng dường đến cho tôi đủ 4 ân huệ, nếu khi tôi xin nhận đủ 4 ân huệ ấy thì bạn không chịu cúng dường, chẳng lẽ tôi lại cãi với người ác có sức lực như bạn. Ai là bậc thiện trí phán xét công bằng được?

Nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo như vậy, Porisāda nghĩ: Đại Vương Sutasoma chưa tin nơi ta, ta sẽ tâu rõ để cho Ngài tin tưởng những điều ta tâu là sự thật”. Y tâu khẳng định rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến! Người nào đã hứa cúng dường 4 ân huệ, rồi không chịu cúng dường đủ 4 ân huệ thì tốt hơn người ấy không nên hứa cúng dường gì cả!

- Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến! Kính xin Đại Vương an tâm tin chắc rằng: “Tôi hứa chắc chắn cúng dường đủ 4 ân huệ và Đại Vương cũng sẽ nhận đủ 4 ân huệ ấy. Dù cho phải hy sinh sinh mạng, thì tôi cũng dám hy sinh sinh mạng, để hiến dâng, để cúng dường đến Đại Vương.

Khi ấy, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma nghĩ: “Porisāda can đảm dám thốt lên lời nói khẳng định như vậy, Porisāda chắc chắn sẽ làm theo lời hứa của y. Ta sẽ xin nhận 4 ân huệ của y”. Nghĩ xong Ngài truyền bảo rằng:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Nếu bạn đã có thật tâm dâng cho tôi đủ 4 ân huệ thì tôi xin nhận đủ 4 ân huệ của bạn.

4 Ân Huệ

1- Ân huệ thứ nhất:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Tình bằng hữu của bậc Thánh này sánh được với tình bằng hữu của bậc Thánh khác. Sự hiểu biết của bậc thiện trí này sánh được với sự hiểu biết của bậc thiện trí khác. Vậy, tôi mong muốn nhìn thấy bạn khoẻ mạnh sống lâu 100 năm.

 Đó là ân huệ thứ nhất mà tôi mong muốn được.

Nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma xin ân huệ thứ nhất như vậy, Porisāda hiểu rằng Ngài mong muốn ta được khoẻ mạnh, sống lâu, nên phát sinh tâm vô cùng hoan hỷ tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến! Đại Vương mong muốn nhìn thấy tôi được khoẻ mạnh sống lâu 100 năm. Tôi thành kính dâng đến Đại Vương ân huệ thứ nhất này

 2- Ân huệ thứ nhì:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Những Đức Vua nào thuộc dòng dõi hoàng tộc được làm lễ đăng quang lên ngôi vua trong toàn cõi Nam thiện bộ châu này. Vậy, tôi xin bạn đừng giết những Đức Vua ấy để ăn thịt.

 Đó là ân huệ thứ nhì mà tôi mong muốn được.

Porisāda tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến! Những Đức Vua trong toàn cõi Nam thiện bộ châu này đều không bị tôi giết, để ăn thịt. Tôi thành kính dâng đến Đại Vương ân huệ thứ nhì này.

3- Ân huệ thứ ba:

- Này Porisāda, bạn thân mến! 101 Đức Vua bị bạn bắt, xâu 2 bàn tay treo trên cây da, họ chịu khổ thân, khổ tâm cùng cực. Vậy, tôi xin bạn thả 101 Đức Vua ấy, để họ ngự trở về đất nước họ.

Đó là ân huệ thứ ba mà tôi mong muốn được.

Porisāda tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến!  Tôi chắc chắn sẽ thả 101 Đức Vua ấy. Tôi thành kính dâng đến Đại Vương ân huệ thứ ba này.  

4- Ân huệ thứ tư:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Đất nước của bạn có nhiều nơi hoang tàn, bởi dân chúng bỏ nhà kéo nhau đi lánh nạn, vì sợ bạn giết họ để ăn thịt. Vậy, tôi xin bạn không nên dùng món thịt người nữa.

Đó là ân huệ thứ tư mà tôi mong muốn được

Khi nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền xin ân huệ thứ tư này, Porisāda vỗ tay cười khanh khách, rồi tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến! Đại Vương đề cập đến điều này được hay sao? Ân huệ này cũng như sinh mạng của tôi, tôi làm sao có thể dâng đến Đại Vương được. Thịt người là món ăn ưa thích nhất của tôi từ lâu. Sở dĩ tôi bị đuổi ra khỏi kinh thành Bāraṇasī, bị lưu đày ở trong rừng này, là vì món thịt người này, tôi không dùng món thịt người làm sao được! Kính xin Đại Vương chọn ân huệ khác vậy!

Nghe Porisāda tâu như vậy, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo rằng:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Bạn là Đức Vua trị vì một nước lớn, mà say mê, nghiện dùng thịt người, với ý nghĩ: “Thịt người là món ăn ưa thích nhất của ta”. Do đó, bạn đã lún sâu vào mọi tội ác và xa lánh mọi phước thiện. Cho nên, bạn phải chịu khổ trong kiếp hiện tại này. Sau khi bạn chết, nếu ác nghiệp ấy có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi địa ngục thì lại càng phải chịu quả khổ của ác nghiệp suốt thời gian lâu dài trong cõi địa ngục ấy nữa.

- Này Porisāda, bạn thân mến! Ta là nơi yêu quý nhất trong đời, khi tâm của ta đã tập luyện trú trong thiện pháp, thì sẽ hưởng mọi sự an lạc và mọi điều đáng ưa thích nhất hơn thế nữa.

Nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo như vậy, Porisāda vô cùng kinh sợ nghĩ: “Ta chắc chắn không thể nào thuyết phục được Đại Vương Sutasoma, bạn của ta, thay đổi ân huệ thứ tư ấy, còn ta cũng không thể không dùng thịt người được. Vậy, ta phải làm sao bây giờ?

Nếu Đại Vương Sutasoma, bạn của ta, xin ân huệ thứ tư khác thì ta sẽ dâng ngay tức thì”. Y vô cùng khổ tâm, trào đôi dòng nước mắt mà tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến! Kính xin bạn thông cảm cho hoàn cảnh của tôi. Thịt người là món ăn ưa thích nhất của đời tôi, tôi không thể nào không dùng thịt người được. Kính xin bạn thương xót tôi mà chọn ân huệ thứ tư khác vậy!

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo rằng:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Nếu bạn còn có tâm tham muốn chấp thủ trong thịt người là món ăn ưa thích nhất của bạn, nên tạo ác nghiệp giết người ăn thịt. Sau khi bạn chết, nếu ác nghiệp sát sinh ấy có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau thì phải sinh trong cõi ác giới: địa ngục, Atula, ngạ quỷ, súc sinh, phải chịu quả khổ của ác nghiệp mà bạn đã tạo.

Cũng như người nghiện rượu, uống rượu có chất độc, người ấy tự làm khổ mình trong kiếp hiện tại. Sau khi chết, nếu ác nghiệp nghiện rượu ấy có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau thì phải sinh trong cõi ác giới: địa ngục, Atula, ngạ quỷ, súc sinh lại càng khổ nhiều hơn nữa.

 - Này Porisāda, bạn thân mến! Bạn nên có trí nhớ, trí tuệ biết mình, từ bỏ dùng món thịt người ưa thích nhất của bạn, cố gắng tránh xa mọi ác nghiệp, ráng cố gắng thực hành theo lời dạy của bậc thiện trí, tạo mọi thiện nghiệp. Sau khi bạn chết, thiện nghiệp ấy có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi thiện giới: cõi người, các cõi trời, hưởng mọi quả an lạc trong cảnh giới ấy.

Cũng ví như người mắc bệnh, muốn được khỏi bệnh, bất đắc dĩ bệnh nhân phải ráng cố gắng uống thuốc có vị đắng. Khi khỏi bệnh, người ấy được khỏe mạnh, an lạc trong kiếp hiện tại.

Nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo như vậy, Porisāda vô cùng khổ tâm, khóc than rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến! Tôi đã từ bỏ Đức Phụ Vương và Mẫu hậu, từ bỏ Chánh cung Hoàng hậu, các hoàng tử, công chúa, từ bỏ ngai vàng điện ngọc, v.v… Tôi bị lưu đày vào ở trong rừng này chỉ vì nguyên nhân tôi thích dùng món thịt người. Bây giờ, làm sao tôi có thể dâng ân huệ thứ tư này đến Đại Vương được!

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo rằng:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Chư bậc thiện trí không bao giờ nói 2 lời, nói như thế nào thì hành như thế ấy. Bạn đã nói với tôi:“Kính xin Đại Vương an tâm tin chắc rằng tôi hứa chắc chắn cúng dường đủ 4 ân huệ và Đại Vương cũng sẽ nhận đủ 4 ân huệ ấy”. Vừa rồi bạn đã nói như vậy, bây giờ bạn lại nói khác. Vậy, lời nói trước khác với lời nói sau.

Nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo như vậy, Porisāda khóc, tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến! Tôi đã trở thành con người tàn ác, mất hết tính người. Hằng ngày, tôi sống bằng cách giết người, để ăn thịt. Do đó, tôi không thể nào dâng ân huệ thứ tư này đến Đại Vương được.

Kính xin Đại Vương thông cảm nỗi khổ của tôi mà đừng bắt buột tôi phải từ bỏ món thịt người. Kính xin Đại Vương chọn ân huệ thứ tư khác.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền nhắc lại lời nói của Porisāda rằng:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Bạn cũng đã tâu với tôi rằng: “Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến! Người nào đã hứa cúng dường 4 ân huệ, rồi không chịu cúng dường đủ 4 ân huệ thì tốt hơn người ấy không nên hứa cúng dường gì cả! Kính xin Đại Vương an tâm tin chắc rằng, tôi hứa chắc chắn cúng dường đủ 4 ân huệ và Đại Vương cũng sẽ nhận đủ 4 ân huệ, “Dù cho phải hy sinh sinh mạng, thì tôi cũng dám hy sinh sinh mạng, để hiến dâng, để cúng dường đến Đại Vương.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma nhắc lại lời nói của Porisāda vừa qua để động viên khuyến khích y phát sinh tâm dũng cảm quyết tâm dâng ân huệ thứ tư này rằng:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Sự hiến dâng sinh mạng để đem lại sự lợi ích lớn lao cho mình và cho tất cả mọi người, đó là pháp hạnh bố thí Ba-la-mật của chư Đức Bồ Tát. Chư thiện trí chỉ thực hành, giữ gìn lời chân thật mà thôi. 4 ân huệ mà bạn đã hứa với lời chân thật, thì bạn hãy nên thực hiện lời hứa chân thật ấy ngay lập tức. Bạn hãy nên dũng cảm lên!

 - Này Porisāda, bạn thân mến! Người dám hy sinh của cải để bảo vệ giữ gìn các bộ phận trong thân thể, bởi vì các bộ các bộ phận như mắt, tai, v.v… là quý hơn của cải; dám hy sinh bộ phận trong thân thể như tay, chân, v.v… để bảo vệ, giữ gìn duy trì sinh mạng, bởi vì sinh mạng là quý hơn bộ phận trong thân thể. Để bảo vệ, giữ gìn thiện pháp, chánh pháp của bậc thiện trí như Đức Phật… thì người ấy dám hy sinh của cải tài sản, các bộ phận trong thân thể, thậm chí cả đến sinh mạng của mình nữa, bởi vì thiện pháp, chánh pháp của bậc thiện trí như Đức Phật v.v… là cao thượng hơn tất cả mọi thứ trong đời.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo động viên khuyến khích Porisāda thực hiện lời hứa chân thật, có lòng tri ân và đền đáp công ơn thầy tiếp như sau:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Người nào có được sự hiểu biết là nhờ đến vị thầy, người ấy cần phải biết ơn thầy và biết đền đáp công ơn thầy. Đó là đức tính tốt của bậc thiện trí.

- Này Porisāda, bạn thân mến! Tôi cũng từng là vị thầy giúp đỡ, hướng dẫn, dạy dỗ bạn lúc bạn còn trẻ, cùng sống chung với nhau tại kinh thành Takkasilā. Nay tôi cũng đã thuyết lại 4 bài kệ của Đức Phật Kassapa cho bạn nghe. Như vậy, tôi là thầy, cũng là bạn của bạn. Vậy, bạn nên nghe lời khuyên dạy của tôi, không nên làm cho tôi thất vọng về bạn.

Nghe lời khuyên dạy chí tình của Đức Vua Bồ Tát Sutasoma, Porisāda có nhận thức đúng đắn rằng: Thật vậy, Đại Vương Sutasoma là vị thầy khả kính của ta, ta phải nên vâng lời khuyên dạy của thầy. 4 ân huệ mà ta đã hứa bằng lời chân thật với thầy, ta phải nên thực hiện đúng theo lời hứa. Vậy, ta phải nên cúng dường đến thầy đầy đủ 4 ân huệ ấy. Sự thật, trong đời này, ai sinh ra rồi cũng có ngày phải chết cả. Đó là điều chắc chắn không ai tránh khỏi. Nếu ta không dùng được thịt người thì ta có chết cũng là việc thường thôi. Vậy, ta sẽ dâng đến Đại Vương Sutasoma ân huệ thứ tư là không dùng món thịt người nữa”.

 Quyết định xong, nước mắt chảy dài trên đôi má, Porisāda đứng dậy đến đảnh lễ dưới đôi bàn chân của Đức Vua Bồ Tát Sutasoma rồi tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, bạn thân mến! Đã từ lâu, thịt người là món ăn ưa thích nhất trong cuộc sống của tôi. Sở dĩ, tôi bị đày ở trong rừng này là vì nguyên nhân món thịt người ấy. Nay, Đại Vương đã xin ân huệ thứ tư là “Xin bạn không nên dùng món thịt người nữa”. Tôi xin chấp thuận rằng: Tôi xin kính dâng đến Đại Vương ân huệ thứ tư này.

Nghe Porisāda quyết định sáng suốt như vậy, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo rằng:

- Này Porisāda, bạn thân mến! Lành thay! Bạn là người biết thức tỉnh, quyết định sáng suốt dâng đến tôi ân huệ thứ tư. Tôi rất hoan hỷ nhận ân huệ thứ tư của bạn. Tôi cầu mong cho bạn luôn luôn thực hành theo con đường của bậc thiện trí, kể từ nay cho đến trọn đời, trọn kiếp.

- Này Porisāda, bạn thân mến! Nếu bạn còn biết thương yêu mình, thì tôi xin yêu cầu bạn nên thọ trì ngũ giới. Bạn nghĩ thế nào?

Porisāda tâu rằng:

- Lành thay! Tâu Đại Vương Sutasoma, vị thầy khả kính! Con vô cùng hoan hỷ vâng theo lời dạy của thầy. Kính xin thầy truyền ngũ giới cho con.

Biết Porisāda đã phục thiện, nên nhận biết trở lại Đức Vua Brahmadatta như trước, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo rằng:

- Vậy xin mời Đại Vương thọ trì ngũ giới.

Đức Vua Brahmadatta đến đảnh lễ dưới đôi bàn chân của Đức Vua Bồ Tát Sutasoma với đầy đủ 5 chi (cái trán, hai cùi tay, hai đầu gối chân sát mặt đất), rồi ngồi một nơi hợp lẽ. Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền ngũ giới cho Đức Vua Brahmadatta vừa chấm dứt, vị chư thiên ở cội cây cùng toàn thể chư thiên ở mặt đất vô cùng hoan hỷ đồng tán dương ca tụng Đức Vua Bồ Tát Sutasoma rằng:

- Tất cả chúng sinh từ cõi đại địa ngục Avīci cho đến cõi trời sắc giới Phạm thiên tột đỉnh, không có một ai có khả năng ngăn cấm Porisāda dùng món thịt người được, duy nhất chỉ có Đức Vua Bồ Tát Sutasoma có khả năng đặc biệt thuyết phục Porisāda từ bỏ dùng món thịt người được mà thôi. Đó là việc làm mà người khác khó có thể làm được. Thật là điều phi thường!

Toàn thể chư thiên cõi Tứ đại thiên vương nghe lời tán dương ca tụng của chư thiên ở mặt đất, rồi cũng tán dương ca tụng Đức Vua Bồ Tát Sutasoma như vậy.

Toàn thể chư thiên cõi Tam thập tam thiên nghe lời tán dương ca tụng của chư thiên cõi Tứ đại thiên vương, rồi cũng tán dương ca tụng Đức Vua Bồ Tát Sutasoma như vậy. Và cứ như vậy, từ các tầng trời dục giới cho đến tầng trời sắc giới phạm thiên tột đỉnh, đều tán dương ca tụng Đức Vua Bồ Tát Sutasoma vang rền khắp các tầng trời.

101 Đức Vua bị xâu 2 bàn tay treo trên cây da cũng đều nghe tiếng tán dương ca tụng của chư thiên ở mặt đất. Các Đức Vua đều nghĩ: Chúng ta chắc chắn được thoát nạn chết, do nhờ Đại Vương Sutasoma thuyết phục được tên sát nhân Porisāda từ bỏ điều ác làm điều thiện”. Nghĩ như vậy xong, họ đều tán dương ca tụng Đức Vua Bồ Tát Sutasoma.

Đức Vua Brahmadatta đảnh lễ dưới đôi bàn chân của Đức Vua Bồ Tát Sutasoma xong, rồi đứng một nơi hợp lẽ. Khi ấy, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo Đức Vua Brahmadatta rằng:

- Này Brahmadatta, bạn thân mến! Bạn nên thả 101 Đức Vua kia ngay bây giờ.

Đức Vua Brahmadatta suy xét: Ta là kẻ thù của các Đức Vua này, nếu khi ta thả các Đức Vua ấy ra thì họ sẽ hợp lại với nhau hành hạ ta đến chết để trả thù. Còn ta đã thọ trì ngũ giới rồi, ta không thể làm khổ ai được nữa”. Suy xét như vậy, nên Đức Vua tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, Đại Vương là bậc thầy khả kính và là bạn thân của con. Con đã vâng lời khuyên của thầy, nay con kính thỉnh thầy cùng con đến thả 101 Đức Vua ấy ra.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma đồng ý cùng ngự đi với Đức Vua Brahmadatta đến gặp 101 Đức Vua đang bị xâu 2 tay treo quanh cây da, 2 chân chạm đất, Ngài truyền bảo rằng:

- Này quý Đức Vua thân mến! Tất cả quý vị đều được Đức Vua Brahmadatta thả ra, tôi cầu xin tất cả quý vị không nên hành hạ Đức Vua Brahmadatta để trả thù. Xin quý vị hứa chắc chắn với tôi như vậy.

Nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma cầu xin như vậy, tất cả các Đức Vua tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, Tất cả chúng tôi xin hứa với Đại Vương rằng: “Tất cả chúng tôi sẽ không hành hạ Đức Vua Brahmadatta để trả thù”. Chúng tôi xin hứa chắc chắn với Đại Vương như vậy.

Nhìn thấy cảnh tượng 101 Đức Vua bị xâu 2 bàn tay treo trên cây da như vậy, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma nghĩ: “Nếu để Đức Vua Brahmadatta cầm gươm đến cắt đứt sợi dây thì họ sẽ bị rơi xuống đất, làm cho chết ngất, bởi vì suốt 7 ngày qua bị treo trên cây”. Vì nghĩ như vậy, nên Đức Vua Bồ Tát Sutasoma đến gần mỗi Đức Vua, ôm choàng thân hình của họ, rồi truyền bảo Đức Vua Brahmadatta cắt đứt sợi dây, Ngài ẵm từng mỗi Đức Vua đặt nằm xuống đất, nhẹ tay rút sợi dây xâu 2 tay ra, lau sạch vết thương, Ngài phát nguyện bằng lời chân thật, rồi thoa thuốc vào vết thương của mỗi Đức Vua ấy. Thật phi thường thay! vết thương được lành ngay khi ấy.

Sau đó, Đức Vua Brahmadatta nấu cháo lỏng, lấy nước đem đến cho mỗi vị Vua dùng.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma và Đức Vua Brahmadatta lo phục vụ chăm sóc 101 Đức Vua sáng, trưa, chiều qua một thời gian ngắn, họ được hồi phục sức khoẻ. Khi ấy, Đức Vua Brahmadatta tâu xin lỗi Đức Vua Bồ Tát Suta-soma cùng 101 Đức Vua rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma cùng 101 Đức Vua trong toàn cõi Nam thiện bộ châu kính mến! Bởi vì tâm tham muốn dùng món thịt người, tâm tà kiến thấy sai, nên tôi đã trở thành người tàn ác đã gây ra đau khổ cho nhiều người, nhất là đã làm khổ Đại Vương Sutasoma cùng 101 Đức Vua. Chính nhờ nghe Đại Vương Sutasoma thuyết pháp tế độ cho tôi được thức tỉnh, nên tôi đã từ bỏ ác nghiệp, tạo thiện nghiệp.

Nay, tôi đã nhận thức được lỗi lầm, tôi thành tâm sám hối những tội lỗi của tôi. Kính xin quý Đức Vua tha thứ lỗi cho tôi.

Các Đức Vua đều có tâm từ hoan hỷ tha thứ lỗi cho Đức Vua Brahmadatta. Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền hỏi quý Đức Vua rằng:

- Này quý vị thân mến! Quý vị có thể ngự trở về kinh thành của mình được chưa?

Các Vị Vua đều tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, Mỗi chúng tôi có thể ngự trở về kinh thành của mình được rồi.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo Đức Vua Brahmadatta rằng:

- Này Brahmadatta, bạn thân mến! Bạn cũng ngự trở về kinh thành Bārāṇasī của bạn.

Nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo như vậy, Đức Vua Brahmadatta khóc, quỳ xuống ôm 2 bàn chân của Ngài mà tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, vị thầy khả kính! Đại Vương cùng với 101 Đức Vua ngự trở về kinh thành của mình, còn tôi ở lại trong rừng này tìm trái cây và rễ cây, để nuôi sống qua ngày.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo rằng:

- Này Brahmadatta, bạn thân mến! Bạn ở lại trong rừng này có ích lợi gì đâu? Bạn nên ngự trở về kinh thành Bāraṇasī, lên ngôi vua trị vì đất nước Kāsi rộng lớn ấy.

Nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo vậy, Đức Vua Brahmadatta tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, Đức thầy khả kính! Thầy truyền bảo như vậy được hay sao? Tôi không dám ngự trở về kinh thành Bāraṇasī, bởi vì tôi đã từng là kẻ thù của dân chúng trong kinh thành Bāraṇasī. Khi họ nhìn thấy tôi, họ sẽ mắng nhiếc tôi là kẻ sát nhân ăn thịt cha mẹ, bà con của họ, họ sẽ đánh đập tôi, thậm chí giết chết tôi nữa. Còn tôi đã thọ trì ngũ giới từ nơi Thầy rồi, để giữ gìn giới cho được trong sạch và trọn vẹn, tôi không thể nào chống cự lại họ được, dù để bảo vệ sinh mạng. Vì vậy, tôi không thể ngự trở về kinh thành Bāraṇasī được. Vả lại, không dùng thịt người, liệu tôi còn sống được bao nhiêu ngày nữa.

Chắc tôi không còn có cơ hội gặp lại Đại Vương, Đức Thầy khả kính của đời tôi nữa đâu.

Đức Vua Brahmadatta khóc nức nở, tâu tiếp rằng:

- Kính thỉnh Đại Vương Sutasoma, Đức thầy khả kính ngự trở về kinh thành Indapatta.

- Kính xin Đại Vương Sutasoma, Đức thầy khả kính để một mình tôi ở lại trong khu rừng này.

Nghe lời than vãn của Đức Vua Brahmadatta, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma cảm động đưa bàn tay vuốt nhẹ lưng của Đức Vua, rồi truyền bảo rằng:

- Này Brahmadatta, bạn thân mến! Tôi là vua Sutasoma đã khuất phục người tàn nhẫn, độc ác như bạn còn được, huống gì dân chúng kinh thành Bāraṇasī sao lại không được?

Tôi sẽ đưa bạn ngự trở về kinh thành Bāraṇasī, lên ngôi vua trị vì đất nước Kāsi. Nếu không được thì tôi sẽ chia đất nước của tôi làm 2 phần, ban cho bạn một phần, rồi làm lễ đăng quang suy tôn bạn lên làm vua.

Nghe lời truyền bảo chí tình của Đức Vua Bồ Tát Sutasoma, Đức Vua Brahmadatta tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, Đức thầy khả kính! Tôi cũng từng là kẻ thù của dân chúng kinh thành Indapatta.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma suy nghĩ tìm cách khác để thuyết phục Đức Vua Brahmadatta tin tưởng mà chịu trở về kinh thành Bāraṇasī. Cho nên, Ngài khéo diễn tả cuộc sống của Đức Vua Brahmadatta trước kia trong cung điện, hưởng mọi sự an lạc, làm cho Đức Vua hồi tưởng lại cuộc sống ấy và nghĩ đến cuộc sống cô đơn vất vả trong rừng một mình.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo Đức Vua Brahmadatta rằng:

 - Này Brahmadatta, bạn thân mến! Xin mời bạn cùng đi với tôi. Tôi sẽ đưa bạn ngự trở về kinh thành Bāraṇasī, làm lễ đăng quang suy tôn bạn lên làm vua xong, tôi mới ngự trở về kinh thành Indapatta. Nếu bạn không lên ngôi làm vua tại kinh thành Bāraṇasī được, thì tôi sẽ đưa bạn trở về kinh thành Indapatta. Tôi sẽ ban cho bạn một nửa phần đất nước, rồi làm lể đăng quang suy tôn bạn lên làm vua. Bạn sống trong rừng cô đơn vất vả một mình có ích lợi gì đâu. Xin bạn hãy nên nghe theo lời khuyên của tôi.

Nghe lời khuyên bảo chí tình, lời khẩn khoản của Đức Vua Bồ Tát Sutasoma, Đức Vua Brahmadatta vô cùng cảm kích trước tấm lòng tốt thuỷ chung của Ngài, Đức thầy khả kính, người bạn thân thiết nhất đời, nên suy nghĩ: “Đại Vương Sutasoma, Đức thầy khả kính, có tâm đại bi cứu vớt ta khỏi vũng bùn tội ác, nâng đỡ ta trở nên người có giới hạnh trong sạch. Bây giờ, Đại Vương Sutasoma lại muốn ta trở lại kinh thành Bāraṇasī, làm lễ đăng quang lên ngôi vua như xưa, được hưởng mọi sự an lạc. Ta ở lại sống trong rừng này có ích lợi gì đâu. Vậy, ta nên tin và vâng lời khuyên bảo của Đại Vương Sutasoma, Đức thầy khả kính của ta”

Sau khi suy nghĩ như vậy, Đức Vua Brahmadatta tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, Đức thầy khả kính! Tôi vô cùng cảm kích trước tấm lòng thương yêu chân thật của thầy đối với tôi. Vậy, tôi xin vâng lời thầy, đi theo thầy trở về kinh thành Bāraṇasī.

- Tâu Đại Vương Sutasoma, Đức thầy khả kính! Sự gần gũi thân cận với bậc thiện trí đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc trong kiếp hiện tại lẫn nhiều kiếp vị lai. Còn sự gần gũi thân cận với kẻ ác chỉ đem lại sự bất lợi, sự thoái hoá, sự khổ đau trong kiếp hiện tại lẫn nhiều kiếp vị lai.

Đức Vua Brahmadatta tán dương ca tụng Đức Vua Bồ Tát Sutasoma đủ điều. Sau đó, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma dẫn Đức Vua Brahmadatta cùng 101 Đức Vua ngự ra khỏi rừng đến vùng biên giới.

Nhìn thấy Đức Vua Bồ Tát Sutasoma, dân chúng đi đến kinh thành Indapatta báo cho các quan trong triều đình biết. Các quan văn võ, các tướng lĩnh dẫn các đội binh đến đón rước. Đức Vua Bồ Tát Sutasoma ngự cùng với các quan, các đội binh đông đảo đi đến kinh thành Bāraṇasī.

Khi ấy, Thái tử của Đức Vua Brahmadatta lên ngôi làm vua, vị quan Kāḷahatthi cũng là vị Thừa tướng trong triều như xưa. Dân chúng ngoại thành đi vào trong kinh thành Bāraṇasī đến chầu Đức Vua, rồi tâu rằng:

- Tâu Bệ hạ, Đại Vương Sutasoma đã thuyết phục được Đức Vua Brahmadatta, và đang cùng các quan, các đội binh hùng hậu ngự đến kinh thành Bāraṇasī này.

Nghe tâu như vậy, Đức Vua liền truyền lệnh đóng cửa thành, và các đoàn binh cầm khí giới sẵn sàng. Khi đoàn quân của Đức Vua Bồ Tát Sutasoma đã đến kinh thành Bāraṇasī, các quan đến tâu rằng:

- Tâu Đại Vương Sutasoma, Cửa thành Bāraṇasī đã bị đóng chặt rồi!

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma liền truyền lệnh cho Đức Vua Brahmadatta và 101 Đức Vua cùng các đội binh dừng lại bên ngoài kinh thành, Ngài ngự đến cửa thành cùng với 2-3 vị quan, truyền lệnh rằng:

- Ta là Đức Vua Sutasoma, các ngươi hãy mở cửa thành!

Các quan giữ cửa thành vào tâu, Đức Vua Bāraṇasī liền truyền lệnh rằng:

- Đại Vương Sutasoma là bậc đại thiện trí, có giới đức đáng kính, là Đức Pháp Vương, chắc chắn không có tai hoạ nào xảy đến với chúng ta. Vậy, các khanh hãy mở cửa thành ngay!

Đức Vua Bāraṇasī cùng Thừa tướng Kāḷahatthi ra cửa thành đón rước Đức Vua Bồ Tát Sutasoma ngự vào cung điện, cung thỉnh Ngài ngự trên ngai vàng, còn Đức Vua Bāraṇasī ngự chỗ thấp hơn. Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền lệnh cho mời Chánh cung Hoàng hậu của Đức Vua Brahmadatta cùng các quan đến hội triều đông đủ. Ngài truyền hỏi rằng:

- Này quan Thừa tướng Kāḷahatthi! Tại sao các ngươi không cho Đức Vua Brahmadatta ngự vào kinh thành?

Vị Thừa tướng Kāḷahatthi tâu rằng:

- Tâu Đại Vương, Khi trị vì đất nước, Đức Vua Brahmadatta là người tàn nhẫn, dùng thịt người. Đức Vua đã truyền lệnh cho người đầu bếp giết nhiều người trong kinh thành này, lấy thịt làm món ăn dâng lên Đức Vua. Tuy chúng thần đã khuyên can, nhưng Đức Vua vẫn không chịu nghe, không chịu từ bỏ dùng món thịt người trong mỗi bửa ăn hằng ngày.

 Cho nên, chúng thần đành phải mời Đức Vua rời khỏi cung điện, ra khỏi kinh thành này, ra khỏi đất nước này, để cho dân chúng được sống an lành. Nay, nghe tin Đức Vua Brahmadatta ngự trở lại kinh thành, chúng thần lo sợ. Cho nên, Đức Vua hiện tại truyền lệnh đóng cửa thành lại. Kính tâu Đại Vương.

Nghe các quan tâu như vậy, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo rằng:

- Này các quan! Nay, các ngươi không còn phải lo sợ Đức Vua Brahmadatta sẽ tạo ác nghiệp giết người ăn thịt như vậy nữa, bởi vì Trẫm đã thuyết phục được Đức Vua Brahmadatta từ bỏ dùng món thịt người rồi. Bây giờ, Đức Vua Brahmadatta đã thức tỉnh, biết phục thiện, trở thành Đức Vua thiện trí có giới hạnh trong sạch. Từ nay Đức Vua chắc chắn sẽ không bao giờ gây tai hoạ đến cho bất cứ một ai nữa. Vậy, các ngươi hãy nên tôn kính Đức Vua Brahmadatta.

 Khi ấy, Đức Vua Bồ Tát truyền bảo Đức Vua Bāraṇasī, Thái tử con của Đức Vua Brahmadatta rằng:

- Này Thái tử! Bổn phận làm con phải biết tôn kính, biết lo phụng dưỡng cha mẹ. Nếu những người con nào không biết tôn kính, không biết lo phụng dưỡng cha mẹ thì những người con ấy, sau khi chết, chắc chắn ác nghiệp ấy sẽ cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới: địa ngục, Atula, ngạ quỷ, súc sinh.

Nếu những người con nào biết tôn kính, biết lo phụng dưỡng cha mẹ thì những người con ấy, sau khi chết, chắc chắn thiện nghiệp ấy sẽ cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi thiện giới: cõi người hoặc cõi trời.

- Này Thái tử! Ngươi phải biết tôn kính, biết lo phụng dưỡng Đức Phụ Vương của ngươi một cách cung kính. Ngươi hãy cố gắng làm tròn bổn phận người con đối với Đức Phụ Vương và Mẫu hậu của ngươi.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo vị quan Thừa tướng Kāḷahatthi rằng:

- Này Kāḷahatthi! Khanh là bạn của Đức Vua Brahmadatta, Đức Vua Brahmadatta đã phong cho khanh địa vị Thừa tướng trong triều. Vậy, khanh phải nên phục vụ đem lại sự lợi ích, sự an lạc đến Đức Vua Brahmadatta và đất nước Kāsi này.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo Chánh cung Hoàng hậu của Đức Vua Brahmadatta rằng:

- Này Chánh cung Hoàng hậu! Bà xuất thân từ hoàng tộc, và được phong lên ngôi Chánh cung Hoàng hậu của Đức Vua Brahmadatta, đã sinh hạ Thái tử,các hoàng tử, các công chúa. Vậy, Bà cũng phải nên phục vụ, đem lại sự lợi ích, sự an lạc đến Đức Vua Brahmadatta.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền dạy bài kệ rằng:

Đức Vua thắng người không nên thắng (chiếm ngôi của Đức Phụ Vương),

Thì không xứng danh là Vua.

Bạn thắng bạn của mình (lừa bạn),

Thì không gọi là người bạn tốt.

Vợ không biết tôn trọng chồng (coi thường chồng),

Thì không gọi là vợ hiền.

Con không lo phụng dưỡng cha mẹ,

Thì không gọi là người con chí hiếu.

Trong cuộc hội họp, nếu không có bậc thiện trí,

Thì không gọi là cuộc hội họp hợp pháp.

Người nào không nói đúng chánh pháp (chân lý),

Thì không gọi là bậc thiện trí.

Bậc nào diệt được tham, sân, si,

Rồi thuyết dạy đúng theo chánh pháp (chân lý),

Thì bậc ấy được gọi là bậc thiện trí.

Bậc thiện trí nào ngồi chung với hàng thiểu trí,

Nếu bậc thiện trí ấy không thuyết dạy,

Thì không biết bậc ấy là bậc thiện trí,

Nếu thuyết pháp Niết Bàn bất tử,

Thì mới biết bậc ấy là bậc Đại thiện trí.

Bậc thiện trí thuyết dạy chánh pháp chân lý rõ ràng,

Bậc thiện trí thường tán dương ca tụng

Chánh pháp của bậc Đại thiện trí.

Chư Đại thiện trí có thiện ngôn (lời nói hay),

 Là lá cờ chánh pháp, cờ của chư Đại thiện trí.

Lắng nghe Đức Vua Bồ Tát Sutasoma thuyết pháp xong, Đức Vua Bāraṇasī, Thừa tướng Kāḷahatthi, Chánh cung Hoàng hậu, các quan trong triều,… đều phát sinh thiện tâm hoan hỷ, rồi bàn bạc với nhau tổ chức đại lễ đón rước Đức Vua Brahmadatta ngự vào cung điện. Đức Vua Bāraṇasī liền truyền lệnh các quan văn võ, các tướng lĩnh chuẩn bị các đoàn binh, truyền lệnh dân chúng trong kinh thành không nên lo sợ nữa. Vì hiện tại Đức Vua Brahmadatta là Đức Vua có giới hạnh tốt, thực hành thiện pháp.

Do vậy, bá quan văn võ, các tướng sĩ, các đoàn binh, toàn thể dân chúng cùng nhau hội họp làm đại lễ đón rước Đức Vua Brahmadatta ngự vào cung điện.

Ngay khi ấy, đại lễ đón rước bắt đầu, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma ngự dẫn đầu, Đức Vua Bāraṇasī, bá quan văn võ, các khanh tướng sĩ, các đoàn binh cùng dân chúng theo sau đến đón rước Đức Vua Brahmadatta tại ngoài kinh thành. Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền gọi người thợ sửa râu tóc cho Đức Vua Brahmadatta, mặc vương phục, rồi thỉnh Đức Vua ngự lên voi báu, rước vào kinh thành Bāraṇasī.

Đến cung điện, thỉnh Đức Vua Brahmadatta ngự lên ngai vàng. Đại lễ đăng quang trọng thể suy tôn Đức Vua Brahmadatta lên ngôi vua trở lại, có sự hiện diện chứng minh chủ trì của Đức Vua Bồ Tát Sutasoma và 101 Đức Vua trong toàn cõi Nam thiện bộ châu. Mọi người đều tán dương ca tụng Đức Vua Bồ Tát Sutasoma rằng:

- Đại Vương Sutasoma đã thuyết phục được tên sát nhân Porisāda biết phục thiện, từ bỏ ác nghiệp, tạo thiện nghiệp, trở lại Đức Vua Brahmadatta có giới hạnh trong sạch, có thiện pháp, rồi làm lễ đăng quang lên ngôi vua như xưa.

Đức Vua Brahmadatta truyền lệnh làm lễ thiết đãi Đức Vua Bồ Tát Sutasoma cùng 101 Đức Vua trong toàn cõi Nam thiện bộ châu trong tình bằng hữu thân thiện. Các nước trong toàn cõi Nam thiện bộ châu đều gửi sứ giả đến tham dự lễ đăng quang của Đức Vua Brahmadatta lên ngôi vua trở lại, đồng thời thỉnh 101 Đức Vua của họ ngự trở về cố quốc.

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma cùng Đức Vua Brahmadatta làm lễ tiễn đưa 101 Đức Vua. Riêng Đức Vua Bồ Tát Sutasoma vẫn còn ở lại kinh thành Bāraṇasī thêm 1 tháng nữa, để thuyết pháp tế độ các quan trong triều, những người trong hoàng gia, toàn thể dân chúng trong kinh thành và ngoại kinh thành, đặc biệt với Đức Vua Brahmadatta rằng:

- Này Brahmadatta, bạn thân mến! Bạn không nên dể duôi, nên cố gắng tạo mọi thiện nghiệp, nên lập 5 trại để bố thí: 4 trại bố thí tại 4 cửa thành và 1 trại tại trước cung điện. Hằng ngày, bạn nên làm phước bố thí đến mọi người nghèo khổ, thiếu thốn đói khổ, nên thực hành nghiêm chỉnh 10 pháp hành của Đức Vua. Bạn không nên có tâm thiên vị đối với các người trong hoàng tộc, các quan, các quân lính, và toàn thể dân chúng.

Sau 1 tháng, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma từ giã Đức Vua Brahmadatta ngự trở về kinh thành Indapatta. Đức Vua Brahmadatta tiễn đưa Ngài với lòng tôn kính và tri ân sâu sắc.

Đức Vua Bồ Tát Ngự Về Kinh Thành Indapatta

Kinh thành Indapatta trang hoàng lộng lẫy, các quan, văn võ, các đoàn binh, toàn thể dân chúng làm lễ đón rước Đức Vua Bồ Tát Sutasoma ngự trở về. Khi về đến hoàng cung, Ngài ngự đến đảnh lễ vấn an Đức Thái Thượng Hoàng và Hoàng Thái Hậu trước. Sau đó, Ngài ngự trở về cung điện, ngồi trên ngai vàng, các quan tề tựu đến chầu Đức Vua Sutasoma. Khi ấy, Đức Vua Bồ Tát Sutasoma truyền bảo các quan trong triều không nên dể duôi, cố gắng tinh tấn tạo mọi thiện nghiệp, để đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an lạc cho mình và cho mọi chúng sinh khác.

Đức Vua Brahmadatta Thiện Trí

Vâng lời khuyên dạy Đức Vua Bồ Tát Sutasoma, Đức Vua Brahmadatta trị vì đất nước bằng thiện pháp, hồi tưởng lại sự việc đã xảy ra: Vị chư thiên cội cây có nhiều ân đức đối với ta, ta phải nên làm lễ cúng dường đến vị chư thiên ấy”.

Nghĩ xong, để cúng dường vị chư thiên cội cây, Đức Vua Brahmadatta truyền lệnh cho san bằng vùng xung quanh gốc cây da, đào một hồ nước lớn, làm đường sá đi lại thuận tiện, lập ra một khu dân cư, có nhiều dân chúng đến lập nghiệp đông đúc, mọi người sinh sống phồn thịnh, an lạc.

Hằng ngày dân chúng cúng dường đến vị chư thiên cội cây ấy. Đức Vua Brahmadatta thực hành theo lời khuyên dạy của Đức Vua Bồ Tát Sutasoma trị vì đất nước hợp theo thiện pháp, không dể duôi, cố gắng tinh tấn tạo mọi thiện pháp cho đến suốt đời.

Sau khi Đức Vua Brahmadatta băng hà, thiện nghiệp cho quả tái sinh lên cõi trời dục giới hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy.

Sau khi thuyết về tích Mahāsutasomajātaka xong, Đức Thế Tôn thuyết bài kệ rằng:

 “Saccavācaṃ anurakkhanto, cajitvā mama jīvitaṃ.

Mocesiṃ ekasataṃ khatthiye, esā me saccapāramī”.[1][1]

Ý nghĩa

Tiền kiếp Như Lai là Đức Vua Bồ Tát Sutasoma

Dám hy sinh thân mạng của mình,

Để giữ gìn lời hứa chân thật.

Cứu sống được 101 Đức Vua thoát khỏi chết.

Đó là pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc thượng

Của Đức Vua Bồ Tát Sutasoma, tiền kiếp Như Lai.

Thuyết về tiền kiếp của Ngài là Đức Vua Bồ Tát Sutasoma xong, Đức Thế Tôn thuyết dạy pháp tứ Thánh đế, thì một số Tỳ khưu chứng ngộ chân lý tứ Thánh đế, chứng đắc Thánh Đạo – Thánh Quả và Niết Bàn tuỳ theo khả năng pháp hạnh trí tuệ Ba-la-mật của mỗi vị.

Đức Thế Tôn truyền rằng:

- Này chư Tỳ khưu, Như Lai không chỉ tế độ được Aṅgulimāla, kẻ cướp sát nhân trong kiếp hiện tại này, mà còn tiền kiếp của Như Lai là Đức Vua Bồ Tát Sutasoma đã từng tế độ, thuyết phục được tiền kiếp của Aṅgulimāla là kẻ sát nhân Porisāda ăn thịt người, biết thức tỉnh, biết phục thiện, rồi trở lại thành Đức Vua Brahmadatta có giới hạnh trong sạch, thực hành các thiện pháp cho đến trọn đời.

Tích Mahāsutasomajātaka Liên Quan Đến Kiếp Hiện Tại

Tích Mahāsutasomajātaka này, Đức Vua Bồ Tát Mahāsutasoma tiền kiếp của Đức Phật Gotama, thực hành pháp hạnh chân thật Ba-la-mật trong thời quá khứ. Đến khi Đức Phật Gotama đã xuất hiện trên thế gian, thì hậu kiếp của những nhân vật trong tích Mahāsutasoma-jātaka ấy liên quan đến kiếp hiện tại như sau:

-  Vị quan Thừa tướng Kāḷahatthi, nay kiếp hiện tại là Ngài Đại Đức Sāriputta.

-  Vị thiên nam cội cây, nay kiếp hiện tại là Ngài Đại Trưởng Lão Mahākassapa.

-  Đức Vua trời Sakka, nay kiếp hiện tại là Ngài Đại Đức Anuruddha.

-  Vị Bà-la-môn Nanda, nay kiếp hiện tại là Ngài Đại Đức Ānanda.

-  Tên sát nhân Porisāda, nay kiếp hiện tại là Ngài Đại Đức Aṅgulimāla.

-  101 Đức Vua, nay kiếp hiện tại là các hàng Thánh thanh văn đệ tử Phật.

-  Đức Phụ Vương và Mẫu hậu, nay kiếp hiện tại là Đức Phụ Vương SuddhodanaMẫu hậu Mahā-mayādevī.

-  Đức Vua Bồ Tát Sutasoma, nay kiếp hiện tại là Đức Phật Gotama.

10 Pháp Hạnh Ba-la-mật

Tóm lược tích Đức Bồ Tát Mahāsutasoma, tiền kiếp của Đức Phật Gotama đã thực hành pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc thượng, ngoài ra còn có 9 pháp hạnh Ba-la-mật khác là phụ cũng đồng thời thành tựu như sau:

- Đức Vua Bồ Tát Sutasoma quyết định hy sinh thân mạng để giữ gìn lời hứa hẹn chân thật, đó là pháp hạnh bố thí Ba-la-mật.

- Đức Vua Bồ Tát Sutasoma giữ gìn giới trong sạch, đó là pháp hạnh giữ giới Ba-la-mật.

- Đức Vua Bồ Tát Sutasoma từ bỏ ngai vàng, từ bỏ mọi sự an lạc của Đức Vua, đó là pháp hạnh xuất gia Ba-la-mật.

- Đức Vua Bồ Tát Sutasoma suy xét đúng đắn sự lợi ích của sự giữ gìn lời chân thật, đó là pháp hạnh trí tuệ Ba-la-mật.

- Đức Vua Bồ Tát Sutasoma có sự tinh tấn luôn luôn giữ gìn lời chân thật, đó là pháp hạnh tinh tấn Ba-la-mật.

- Đức Vua Bồ Tát Sutasoma có đức tính nhẫn nại chịu đựng không phát sinh tâm sân, đó là pháp hạnh nhẫn nại Ba-la-mật.

- Đức Vua Bồ Tát Sutasoma phát nguyện: “Dù hư không bị vỡ, nước biển bị khô cạn,… nhưng tôi vẫn không nói dối được”, đó là pháp hạnh phát nguyện Ba-la-mật.

- Đức Vua Bồ Tát Sutasoma phát sinh tâm từ đối với tên sát nhân Porisāda, đó là pháp hạnh tâm từ Ba-la-mật.

- Đức Vua Bồ Tát Sutasoma giữ tâm bình thản trước sự chết,… đó là pháp hạnh tâm xả Ba-la-mật.

Đó là 9 pháp hạnh Ba-la-mật phụ cũng đồng thời thành tựu cùng với pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc thượng.

Nhận Xét Về Tích Đức Vua Bồ Tát Mahāsutasoma

Đức Vua Bồ Tát Sutasoma, tiền kiếp của Đức Phật Gotama thực hành pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc thượng (Saccaparamatthapāramī).

Pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc thượng là 1 trong 10 pháp hạnh Ba-la-mật bậc thượng cũng là 1 trong 30 pháp hạnh Ba-la-mật mà Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác cần phải thực hành cho được đầy đủ, để hỗ trợ trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác (Sammāsambuddha).

Chân thật Ba-la-mật đó là lời nói chân thật (Sacca-vācā), Đức Bồ Tát nói như thế nào thì hành như thế ấy, hành như thế nào thì nói như thế ấy.

Đức Bồ Tát tôn trọng giữ gìn lời nói chân thật hơn cả sinh mạng của mình. Nếu Đức Bồ Tát dám hy sinh thân mạng để giữ gìn lời nói chân thật của mình thì gọi là pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc thượng.

Vậy, lời nói chân thật có tầm quan trọng như thế nào?

Lời nói chân thật được phát sinh từ thiện tâm trong sạch thì lời nói chân thật ấy có năng lực tiềm tàng rất phi thường. Bậc thiện trí nói lời chân thật khiến cho người nghe phát sinh đức tin trong sạch nơi bậc thiện trí ấy, khiến cho kẻ thù phải run sợ, biết thức tỉnh, rồi bỏ ác nghiệp hành thiện nghiệp, từ bỏ tà kiến theo chánh kiến: như trường hợp tên sát nhân Porisāda.

Lời nói chân thật còn có khả năng đặc biệt khác như:

- Làm tan biến chất độc của mũi tên: như trường hợp Đức Bồ Tát Suvaṇṇasāma.

- Làm tan biến nọc rắn độc: như trường hợp Đức Bồ

Tát Đạo sĩ Kaṇhadīpayana.

- Dập tắt được ngọn lửa rừng: như trường hợp Đức Bồ Tát sinh làm chim cút còn nhỏ chưa có thể chạy, chưa có thể bay được. vv…

Cho nên, lời nói chân thật có năng lực phi thường.

Đức Vua Bồ Tát Mahāsutasoma truyền bảo rằng:

“Saccaṃ tesaṃ sādutaraṃ rasānaṃ…

(Lời nói chân thật là vị cao thượng hơn các thứ vị trong đời).

Sinh mạng của mình là quý nhất hơn tất cả mọi thứ trong đời. Cho nên, người ta dám hy sinh của cải tài sản, dám hy sinh những bộ phận trong thân thể để bảo vệ sinh mạng. Nhưng đối với chư Đức Bồ Tát, nếu khi giữ gìn giới cho được trong sạch và đầy đủ, hoặc giữ gìn lời chân thật, v.v… hoặc thực hành pháp hạnh Ba-la-mật bậc thượng nào, thì chư Đức Bồ Tát ấy dám hy sinh thân mạng của mình, để cho thành tựu pháp hạnh Ba-la-mật bậc thượng ấy, bởi vì, sinh mạng của mình tuy là quý nhất, nhưng chỉ quý trong một kiếp ấy mà thôi. Đến khi chết, sinh mạng này không còn nữa.

Còn giữ gìn giới trong sạch đó là pháp hạnh giữ giới Ba-la-mật hoặc giữ gìn lời nói chân thật đó là pháp hạnh chân thật Ba-la-mật, v.v… là các pháp hạnh Ba-la-mật làm nhân duyên hỗ trợ để chứng ngộ chân lý tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, hoặc Đức Phật Độc Giác, hoặc bậc thánh Thanh Văn Giác thì cao thượng hơn biết dường nào!

Vấn: Tại sao Đức Vua Brahmadatta ưa thích dùng món thịt người nhất, để trở thành tên sát nhân Porisāda ăn thịt người?

Đáp: Bởi vì tiền kiếp vừa qua của Đức Vua Brahma-datta đã từng sinh làm kiếp Dạ-xoa (yakkha) thường ăn thịt người. Kiếp Dạ-xoa đã trải qua thời gian lâu dài ăn thịt người như vậy, nên vị của thịt người đã tích luỹ in sâu trong tâm tưởng gọi rasasaññā: vị tưởng. Cho nên trong kiếp hiện tại, lần đầu tiên Đức Vua Brahmadatta khi vừa nếm đến vị của món thịt người, liền có cảm giác vị ngon quen thuộc đáng ưa thích nhất của mình.

Từ đó về sau, trong mỗi bữa ăn không thể thiếu món thịt người được.

Trong vòng tử sinh luân hồi của mỗi chúng sinh đều đã tích luỹ nhiều ác nghiệp và nhiều thiện nghiệp.

Nếu ác nghiệp nào có cơ hội thì ác nghiệp ấy cho quả khổ trực tiếp đến cho chúng sinh ấy, và quả khổ ấy cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến các chúng sinh khác gần gủi với chúng sinh ấy.

Hoặc nếu thiện nghiệp nào có cơ hội thì thiện nghiệp ấy cho quả an lạc trực tiếp đến cho chúng sinh ấy, và quả an lạc ấy cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến chúng sinh khác gần gủi với chúng sinh ấy.

Vậy, chúng ta không nên gần gũi thân cận với kẻ ác, để tránh khỏi ảnh hưởng quả khổ của kẻ ác, và chúng ta nên gần gũi thân cận với bậc thiện trí, để được ảnh hưởng quả an lạc của bậc thiện trí.

 (Xong pháp hạnh chân thật Ba-la-mật bậc thượng)



[2][1] Bộ Khu. Jātakaṭṭhakathā, Nidānakatthā, Khu. Cariyāpiṭaka.

 

 



[1][1] Bộ Khu. Jātakaṭṭhakathā, Nidānakatthā, Khu. Cariyāpiṭaka.

 

 

Send comment
Your Name
Your email address